• Little Saigon từ lâu đã là một biểu tượng là nơi cho người Việt tỵ nạn Cộng Sản định cư. • Little Saigon tự nó đã mang di sản lịch sử, nguyên nhân tại sao người Việt phải bôn đào khỏi quê hương. • Little Saigon hàm chứa ý nghĩa đoàn kết của người Việt tỵ nạn Cộng Sản khắp nơi. • Little Saigon còn là di sản dành cho thế hệ mai sau của người Việt tự do.
************************* * Yêu tiếng Việt và mong muốn tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ toàn cầu.
* Rất ước mong Văn Minh Bách Việt sẽ phục hưng và tái kết nối trong lòng một ASEAN hùng mạnh.
* Rất mong người Việt Nam biết cách học làm một dân tộc lớn.
* * Hy vọng, lạc quan, yêu đời *
May 2, 2010
Mưa 32 Photos, 12 comments
Paper Creative - Thủ Công- Làm Bằng Giấy 8 Photos, 1 comment
• Tôi chỉ đau lòng là cuộc chiến đấu đó là “nồi da xáo thịt”, hai anh em xông vào bắn giết lẫn nhau. Một bên là người Mỹ cho kẹo cao su với khẩu AR 15, một bên là Tàu với Liên Sô cho một gói lương khô với khẩu AK 47, cứ thế mà hai thằng anh em ruột, cùng máu đỏ, da vàng, cùng bà mẹ Âu Cơ sinh ra, xông vào chém giết lẫn nhau.
• Chúng tôi chẳng giải phóng Miền Nam làm gì, và Miền Nam cũng chẳng cần chúng tôi giải phóng.
• Năm 1945 thì họ cướp chính quyền tại Miền Bắc, khi đất nước chia thành hai miền sau hiệp định Geneve, họ lại bắt đầu phát động cuộc chiến tranh gọi là giải phóng Miền Nam, thực chất là họ muốn thu quyền lực về một mối, tôi rất thất vọng về chính quyền hiện nay.
• Sách vở như chiếc túi khôn của loài người vốn tích lũy vô số kinh nghiệm bị đảng cộng sản Việt Nam đốt sạch nhằm cắt đứt sự liên hệ giữa thế hệ trẻ với dòng sinh lực dân tộc. Chính sách bất dung dấy lên làn sóng vượt biên, thuyền nhân từ Bắc chí Nam đã vét cạn chất xám cần thiết cho công cuộc xây dựng đất nước phú cường.
• Cộng sản Việt Nam cho xuất cảng lao động đem dân đi làm nô lệ cho quốc tế, hạ nhân phẩm người phụ nữ Việt Nam, buôn bán phụ nữ làm vợ cho người Đài Loan, Nam Hàn, và có nhiều người phải làm vợ cho cả gia đình cha con và anh em. Trẻ em 8, 10 tuổi thì đưa sang Campuchia cho vào các động mãi dâm làm gái với khách thập phương.
• Việt Nam đang từng phút, từng giờ đứng trước mối đe dọa mọi mặt của người đồng minh “môi hở răng lạnh”. http://nam64.multiply.com/journal/item/386
Thiện mà đi theo cộng sản thì là do họ không hiểu cộng sản, họ cố gắng xây dựng đất nước trong vô vọng và không biết rằng mình đang tiếp tay cho kẻ ác. Nếu ta đồng lõa với hành động tiếp tay cho kẻ ác; cũng có nghĩa ta đang thừa nhận sự phi nhân, thừa nhận cái ác. Bị dẫn dắt vào con đường phi nhân, nó hủy hoại tính tốt của con người.
Hãy tự giải phóng tinh thần khỏi những ràng buộc, áp đặt, định hướng do ai đó muốn đưa vào đầu mình, nhằm mục đích điều khiển và thống trị...
Không ai có thể 'giam cầm' được tư tưởng của bạn, trừ khi chính bạn muốn như vậy và tự nguyện như vậy!
Những tội ác của Chủ Nghĩa Cộng Sản giết chết gần 100 triệu người. - Số nạn nhân của hai cuộc Thế Chiến cộng lại cũng không bằng số nạn nhân của Chủ Nghĩa Cộng Sản...
- Xương nạn nhân của Chủ Nghĩa Cộng Sản chất cao thành núi, máu nạn nhân cộng sản chảy thành sông. Tội ác của Chủ Nghĩa Cộng Sản giết chết gần 100 triệu người.
- Tại Trung Quốc hơn 60 triệu - Nga hơn 30 triệu - Bắc Hàn vài triệu - Việt Nam vài triệu người, - Đông Âu vài triệu người.
Khủng khiếp hơn phát xít Đức nhiều...
Bốn biến cố tội ác cộng sản gây ra tại Việt Nam:
1) Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam 1954 hàng vạn nông dân-địa chủ có công với Việt Minh chống thực dân Pháp bị đảng cộng sản Việt Nam chôn sống, xử bắn...
2) Biến cố tết Mậu Thân 1968 hàng nghìn người dân vô tội tại Huế bị bộ đội cộng sản Việt Nam chôn sống, xử tử......
3) Đại lộ kinh hoàng mùa hè 1972 hàng nghìn thường dân vô tội Quảng Trị trốn chạy cộng sản Việt Nam bị pháo, đạn cộng sản Việt Nam bắn máu thịt rơi khắp đoạn đường 10Km từ Quảng Trị vào Huế.
4) Hàng triệu thuyền nhân tìm tự do chạy trốn chế độ cộng sản trên những chiếc thuyền con trên Đại Dương hàng vạn người dân Việt Nam đã chết trên biển cả, nơi rừng sâu Camphuchia.
* Tù Cải Tạo và đi vùng Kinh tế mới. Một hình thức mượn dao giết người.
Ai cầm giáo cầm gậy đánh đập giết chóc "địa chủ" và "tư sản", chính người dân ta thôi chứ không đảng nào, bác nào ở đây. Đảng và bác có bảo thật, nhưng nếu dân ta còn tính người để mà đừng hành hạ đồng loại như thế!
Ai trực tiếp cầm dao chặt đầu đồng bào mình, bảo họ là kẻ thù, và bỏ xác vào bao bố thả đầy những nhánh sông Cửu Long? Cũng chính là từng cá nhân của người dân ta.
Ngày tết năm đó, ai đã lấy dây kẽm gai cột tay đồng bào mình, dong vào rừng rồi bắn bỏ hàng ngàn người?
Ai trực tiếp hành hạ cả trăm ngàn người bại trận suốt mười mấy năm trời nơi rừng thiêng nước độc, gây điêu đứng cho bản thân và gia đình họ suốt mấy chục năm sau khi cả nước thống nhất?
Cũng chỉ là người dân ta đã trực tiếp làm nên những cuộc hành hạ nhau đẫm máu, không hề có kẻ ngoại lai nào nhúng tay vào những tội ác kể trên.
Cờ vàng đã tồn tại trước cờ đỏ và không là biểu tượng cho một ý thức chính trị nào. Cờ đỏ chỉ có từ khi đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời và rập khuôn tiêu chuẩn của thế giới Cộng Sản.
Cung Chúc Tân Xuân - Vạn Sự Như Ý -Chúc ông bà 1 tô như ý- Chúc cô chú 1 chén an khang- Chúc anh chị 1 dĩa tài lộc!- Giao thừa sắp đến.-Chúc bạn đáng mến.- Sự nghiệp tiến lên.- Gặp nhiều điều hên!- Chúc năm mới:- 1 vợ, 2 con,- nhà 3 tầng,- xe 4 chỗ!- Ròm kính chúc bà con
- Chữ nghĩa, từ ngữ "quái dị" được dùng hiện nay ở trong nước khác với loại từ ngữ của người Việt hải ngoại.
- Giọng Hà Nội bây giờ, cái giọng lơ lớ dấu sắc thành gần như dấu hỏi - đó không phải là đúng giọng của người Hà Nội. Hiện giờ ở Hà Nội là người tứ xứ đổ về ở tại Hà Nội nên đem theo đủ giọng ngọng nghịu rồi cứ thế mà bảo là giọng Hà Nội!
Giọng Hà Nội trong nước gần như tuyệt chủng rồi! Ra hải ngoại kiếm thì thấy khá nhiều! Người Hà Nội chạy tỵ nạn cộng sản gần hết rồi. Từ năm 54 chạy vào Nam rồi năm 75 chạy ra hải ngoại nên chẳng còn lại bao nhiêu trong nước. http://www.uminhcoc.com/forums/showthread.php?t=84996
Chiến dịch đã phát động vào ngày 20/07/2010. Hàng loạt những cột mốc lịch sử quốc giới Trung-Việt đã bị Trung Cộng và CS Việt Gian tất bật tháo gỡ đưa vào các Bảo Tàng Lịch Sử địa phương mà chúng gọi:
Chiến dịch “bài trừ các mốc biên giới cũ”
Tại sao bọn Trung cộng xâm lược có quyền làm như thế?
Đảng CS Việt Gian đang câm lặng?
Mốc số 17 (đoạn Vân Nam-Hà Khẩu)
Cột Mốc “Đại Nam Quốc Giới” tại Phòng Thành, Quảng Tây
Việt Nam tham gia việc khuân vác cột mốc quốc giới dâng cho Trung Cộng.
Qua bài hát "Người ở lại Charlie" và lời giới thiệu, MK đã hiểu vùng Dakto Tân Cảnh là nơi chiến sự xảy ra, bài hát nghe rất thường giờ mới biết rõ ý nghĩa! Một lần nữa cám ơn!
Cộng Sản Việt Nam Có Thực Sự Đề Cao "Thuần Phong Mỹ Tục"?
Suốt tuần qua trên báo chí trong nước hẳn ai đọc báo cũng thấy nhan nhản các bài xung quanh việc các nữ nghệ sĩ bị phê bình chỉ trích bởi cách ăn mặt "thoáng mát" của họ. Chỉ có mỗi việc cô này hở ngực, cô kia lộ quần lót và ả nọ lòi mông mà các báo cộng sản đua nhau đăng tải như sự kiện nổi bật chưa từng có.
Đã thế còn nhiều ý kiến phản đối kiểu dàn cảnh để dọn đường xử phạt hành chính các nạn nhân "thuần phong mỹ tục" này. Cứ như thế chuyện ầm ĩ và khiến người ta có cảm giác cộng quyền Việt Nam quan tâm đến việc văn hóa, đạo đức của người dân...
Thế nhưng thiên hạ đã lầm, đừng cứ tưởng vậy là sự nổ lực tích cực của cộng sản cho một môi trường sống lành mạnh rồi tấm tắc khen đảng và nhà nước quan tâm đến đời sống văn hóa của nhân dân. Nếu ai để ý sẽ thấy cộng sản chỉ tài mồm loa mép dãi, vờ vịt ra vẻ đạo đức, biết đề cao thuần phong mỹ tục.
Nhưng hỡi ôi, toàn một lũ bịp bợm. Một mặt chúng la to hét lớn tố cáo các nữ nghệ sĩ ăn mặc diêm dúa, mặt khác chúng lại đua nhau tung lên báo những bài viết úp mở khiêu dâm một cách trắng trợn, chẳng hạn như hai bài báo được đăng trên báo cộng sản vietnamnet.vn.
Cả hai bài tuy dùng chữ thanh tao nhã nhặn, nhưng nội dung đang mô tả chuyện tình dục một cách chi tiết. Phải chăng cộng sản chỉ làm trò hề, chúng vờ vịt phê phán người này kẻ nọ, nhưng lại
mê hoặc giới trẻ bằng những bài báo kích dục khiêu dâm kiểu này. Chúng cố tình tung lên những bài báo đó hòng ru ngủ giới trẻ say sưa trong các mẫu chuyện khiêu dâm mà quên đi thực tại trên đe dưới búa của chúng và lèo lái giới trẻ bỏ lững chuyện lên mạng tìm hiểu thông tin, cập nhật những văn minh tiến bộ của thế giới? Hoặc cộng sản đang triệt để áp dụng phương pháp ngu dân để thanh niên thiếu nữ chỉ còn biết luẩn quẩn trong những giấc mơ tình dục thái quá mà quên đi sức đề kháng chống lại cộng sản...
Còn nhìn chung thì chúng ta thấy rõ ràng đó là một trò hề trơ trẽn khi chuyện chẳng có gì mà bọn cầm quyền cộng sản phải lên tiếng trách móc người này kẻ nọ ăn mặc ra sao... Trong khi đó không ngớt tung lên báo những mẫu chuyện khiêu dâm loại kích thích tình dục như hai bài tôi đính kèm dưới đây:
* Tôi Sẽ Kiện… bao cao su
** Nhập Viện Vì 'Yêu' Cuồng Nhiệt
(Cả 2 bài này được lấy từ báo lề phải vietnamnet.vn)
Một trong những trận đánh anh hùng ấy đã làm mủi lòng biết bao nhiêu người, đã gây xúc động biết bao nhiêu con tim. Những dòng nước mắt đã dàn dụa đổ xuống khi chứng kiến cuộc chống trả tuyệt vời và ngoạn mục có thể nói trên thế giới, không một quân sử nước nào có thể có được.
Đó là cuộc chống trả của các THIẾU SINH QUÂN ở Vũng Tàu trong đêm 29 và gần trọn ngày 30-4-75, khi cộng quân xâm nhập và chiếm đóng các vị trí trọng yếu trong Thị Xã Vũng Tàu, coi như bỏ ngỏ và rơi vào tay cộng quân ngoại trừ một cứ điểm duy nhất còn chống cự do những thiếu niên tuổi 12, 13... đến 17 tự lập phòng tuyến quyết tâm tử thủ. Cứ điểm đó là trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu và những chiến sĩ gan dạ anh hùng đó là những thiếu sinh măng trẻ của trường.
Địch đã tung hai tiểu đoàn xung kích bao vây cứ điểm cuối cùng này nhưng chúng đã gặp phải một lực lượng vũ trang đáng kể hiên ngang đương đầu với chúng. Cộng sản đã coi thường những chú lính sữa chưa bao giờ biết mùi trận mạc. Chúng bắt loa kêu gọi các em đầu hàng và buông lời hăm dọa... Tiếng loa vừa dứt, Việt cộng nhận ngay một tràng đại liên thay cho câu trả lời, gọn gàng và cương quyết của gần 700 tay súng tí hon. Tiếp theo là hàng trăm mũi súng nhắm thẳng vào bọn Việt cộng bên ngoài, phẫn nộ lảy cò. Vài tên Bộ Đội bị đốn ngã ngay trong loạt đạn đầu tiên. Bọn Viêt Cộng phải đứng khựng lại trước tinh thần quyết tử của 700 hậu duệ anh hùng Trần Quốc Toản. Chúng không dám tấn công ngay vì các em quá nhỏ và vì có sự hiện diện của đồng bào. Chúng lui ra xa tránh đạn, bắc loa ra lệnh các em phải đầu hàng đúng 9:30 sáng hôm sau, ngày 30 tháng Tư.
Mặc Việt cộng kêu gọi và đe dọa, Thiếu Sinh Quân vẫn kiên trì tử thủ, khiêng chướng ngại vật làm lũy phòng ngự, tổ chức giao liên, tiếp tế đạn dược, nước uống và lương khô, cứu thương và cứu hỏa.... Anh lớn chỉ huy các em nhỏ, áp dụng tuyệt vời những bài học quân sự và kỹ thuật tác chiến đã được giảng dạy ở quân trường.
Đúng 9 giờ 30 phút sáng ngày 30-4. Cộng quân ra lệnh gọi đầu hàng lần chót nhưng các chiến sĩ tí hon vẫn kiên quyết kháng cự, trả lời chúng bằng những loạt đạn dữ dội hơn. Việt cộng nổi cơn khát máu. Chúng khai hỏa, mở cuộc tấn công ào ạt mong giải quyết chiến trường nhanh chóng. Nhưng chúng phải lập tức bị dội ngược lại, không ngờ sức chống cự quá mãnh liệt và hỏa lực từ bên trong bắn ra vô cùng chính xác vào những bia sống, những cái bia người "SINH BẮC TỬ NAM". Các em chưa bao giờ được bắn, nay đã bắn với tất cả căm thù, mong giành lại những gì sắp bị cướp mất.
Thiếu Sinh Quân có đầy đủ vũ khí cá nhân và vũ khí cộng đồng. Ngoài ra còn có lợi điểm là các công sự trong trường, vừa đánh vừa di chuyển, ẩn núp, trong khi bộ đội Việt cộng lớ ngớ như bầy chuột chù ra ngoài ánh sáng. Lại có những thanh thiếu niên và Quân Nhân vỡ ngũ bên ngoài hào hứng và kích động, tìm cách lẻn vào tăng cường tay súng, nhập cuộc cùng các Thiếu Sinh Quân chiến đấu ngay trong sân trường, đột kích, đánh bọc hậu bọn bộ đội khiến chúng nao núng và hốt hoảng.
Việt cộng đã bắn sập một khoảng tường nhưng không thể nào vượt qua được lưới đạn của các chiến sĩ nhỏ tuổi nhưng can trường. Các em đã chiến đấu thật gan dạ, nhanh nhẹn, khôn ngoan, phối hợp nhịp nhàng và KỶ LUẬT như những đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến nhà nghề. Đây là trận đánh thực sự đầu tiên và cũng là trận đánh cuối cùng của các em còn đang giở khóa học. Trận đánh QUYẾT TỬ đã đi vào lịch sử. Các Thiếu Sinh Quân đã chiến đấu không nao núng dù có nhiều em ngã gục. Những đứa con bé bỏng của quê hương đã chết trong giờ phút cuối cùng của miền Nam, khi tóc còn xanh, mộng đời chưa trọn. Đồng bào chứng kiến cảnh bi thương này đã òa lên khóc. Có những bà mẹ kêu gào, lăn xả vào cản ngăn họng súng bọn bộ đội để che chở cho những thiếu niên ở bên trong.
Tiếng nổ, tiếng hò hét, tiếng kêu khóc, tiếng loa uy hiếp của Việt cộng đã tạo nên một không khí chiến trường lạ lùng chưa từng thấy... Các Thiếu Sinh Quân chiến đấu với tất cả nhiệt tình và sinh lực của tuổi trẻ hăng say hào hứng như đang tham dự một trò chơi lớn.
Cuộc chống cự kéo dài đến 3 giờ chiều. Cho đến khi kho đạn dược đã cạn và kho lương thực bị bốc cháy, các Thiếu Sinh Quân mới bằng lòng cho Việt cộng thương thảo. Họ đòi hỏi Việt cộng chấp nhận một giờ ngưng bắn, sau đó sẽ buông súng và mở cổng ... Và các em đã dùng một giờ ngưng bắn để thu dọn chiến trường, săn sóc đồng đội bị thương, gói liệm thi hài những vị tiểu anh hùng đã gục ngã, và chuẩn bị làm lễ hạ kỳ. Họ KHÔNG ĐỂ CHO BỌN cộng sản làm nhục lá cờ VÀNG BA SỌC ĐỎ, lá cờ biểu tượng thiêng liêng gói ủ hồn dân tộc mà họ đã thề nguyền PHẢI THƯƠNG YÊU và BẢO VỆ.
Có chừng hơn một Trung Đội Thiếu Sinh Quân đã tập họp trước sân cờ, đứng trang nghiêm và thành kính nhìn lên lá Quốc Kỳ còn nguyên vẹn màu tươi thắm bay phất phới trên nền mây ngọc bích. Hai Thiếu Sinh Quân lớp 12 là Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Văn Chung bước tới, đứng nghiêm trước kỳ đài theo lễ nghi quân cách, dơ tay chào. Họ từ từ nắm từng nấc giây, cho lá cờ hạ xuống thật chậm và từ tốn như cố kéo dài giây phút thiêng liêng cảm động này, nước mắt đầm đìa.
Tất cả Thiếu Sinh Quân từ trong các tầng lầu, từ các hố cá nhân, các giao thông hào, sau những gốc cây, bờ tường, sau những mái nhà... không ai bảo ai, đồng loạt đứng bật dậy đồng thanh cất tiếng hát bài quốc ca. Gần 700 giọng hát hùng tráng cất lên, vang khắp sân trường. Bọn bộ đội Việt cộng nghe, ngơ ngác không phản ứng. Tiếng hát phủ tràn trên tuyến địch vang đến tận bến Dâu, bến Đình… Mọi người dân Vũng Tàu đã đều nghe và rung động. Tiếng hát bay ra biển khơi, bay lên trời cao, âm thanh lồng lộng theo gió chiều, đất trời cùng ngẩn ngơ rớm lệ theo tiếng hát. Các Thiếu Sinh Quân đã làm lễ mai táng đất nước, đã TRANG NGHIÊM RỬA SẠCH tấm bia DANH DỰ của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, đã vuốt mắt cho Mẹ Việt Nam yên nghỉ qua lễ hạ kỳ lần cuối chỉ một không hai này. Họ hát bằng tiếng nấc thê lương và phẫn uất từ sâu thẳm trái tim, với những nghẹn ngào cùng dàn dụa của nước mắt. Đồng bào cùng thổn thức thương tủi và thổn thức hát theo.
Thời gian như ngưng đọng lại trong giờ khắc thiêng liêng và bi thảm, xúc động cùng lẫm liệt đó.
Cho đến bây giờ, 22 năm sau, nhiều người vẫn nghe văng vẳng trong sâu kín của buồng tim đã thắt nghẹn, tiếng bi thương hùng tráng của các Thiếu Sinh Quân hát bài Quốc Ca trên đất nước, trong ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen, ngày oan khiên định mệnh cho dân tộc Việt.
Huy hiệu Trường Thiếu Sinh Quân
Thiếu Sinh Quân Hành Khúc
Ta là đoàn thiếu sinh quân Việt Nam. Mai này đều bước theo gương đàn anh Không nề đường trường gian lao nguy khó Gan sờn đoàn ta với thiếu sinh quân.
Ta đi lên, vai chen vai, Cần vang muôn tiếng cười Ta xây dựng ngày mai Muôn dân Nam đang ngóng chờ ta đó.
Hôm nay đây, ta siêng năng, Đến khi xa mái trường Mang tài năng ra giúp nước Kiến thiết non sông nhà.
Đoàn ta con người chiến sĩ quốc gia Máu hồng hùng anh tiếp cùng ta đó Nhớ rằng đoàn quân tác chiến ngày mai Huy hoàng
Ta là đoàn thiếu sinh quân Việt Nam Học hành để đắp xây cho ngày mai Đem nguyện đồng lòng xây tương lai tươi sáng Không làm hồ thẹn với thiếu sinh quân.
Ta không phải trong nhóm blog Le Nguyen Huy Tran, ta dùng một ít tài liệu của nhóm này đoàn nọ. Xét ra thì những nhóm chống cộng có nhiều nét giống nhau. Hiện nay có rất nhiều nhóm, đoàn, hội v. v… thật cũng có, cuội cũng có, mà bẫy người cũng có… chứng cớ: đất nước bất an, có nguy cơ. Ta mong em sáng suốt nhận định. Ta chỉ nhắc lại lời ai đó đã nói:
- 3 người hiền đức kết bạn thì học được cái khôn của nhau, rồi đem cái khôn đó tạo ảnh hưởng tốt với xã hội.
- 3 thằng lưu manh thì truyền đạt cho nhau thủ đoạn móc túi và ăn cướp. Rồi sẵn sàng giết nhau tranh của đã cướp được của xã hội.
- Thế hệ con cháu chúng ta phải được truyền đạt đầy đủ về ý nghĩa của sự chiến đấu của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
๑°๑
Cách đây cả ngàn năm, hai Bà Trưng đã dựng cờ khởi nghĩa, bây giờ nếu bỏ lá cờ vàng thì khi tập họp những người đấu tranh cho dân chủ chống độc tài cộng sản lấy lá cờ gì?
Đòi dẹp cờ vàng trước đã, còn cờ máu thì “cũng chỉ có thể thực hiện sau khi đất nước đã có dân chủ…”.
Tôi và rất nhiều người Việt Nam khác nữa không cần “thông thái” quá, cũng hiểu rằng: Sau khi “lá cờ vàng” ba sọc đỏ được dẹp đi, thì “lá cờ máu” vẫn còn đó và đến tết Congo thì dân Việt Nam mới có dân chủ. Lúc đó, liệu ông/bà ABC… anh/chị XYZ… ở đâu và lấy cái gì làm biểu tượng để tranh đấu cho Dân Chủ ở Việt Nam?
Không lấy cờ vàng làm biểu tượng cho cuộc tranh đấu dân chủ hóa đất nước thì lấy biểu tượng gì?
Cuộc Diễn Binh Vĩ Đại Nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 1973
Toàn dân nước Việt ghi ơn các anh, Các anh trai hùng nước Nam.
@Đại Việt: Tôi phải xóa hình và bài thơ chế diễu về Đàm Vĩnh Hưng mà bạn đã cho vào guest book của tôi.
Tôi không chê ghét hay hâm mộ Đàm Vĩnh Hưng. Tôi chống hành động "tuyên vận - Nghị Quyết 36" mà Hưng đã theo lệnh của Việt cộng thôi.
Giao lưu văn hóa là cách Việt cộng xâm nhập, nhuộm đỏ cộng đồng, đánh phá và gây hoang mang chia rẽ trong cộng đồng người Việt hải ngoại tỵ nạn chính trị ta.
Tôi không đả kích cá nhân, tôi chống hành động cá nhân ấy đã theo chỉ thị của đảng cộng sản VN hay Tầu cộng.
Tôi chống độc tài toàn trị của đảng cộng sản Việt Nam theo Trung cộng mà bán nước cho họ.
Tôi không chống người dân Việt Nam trong cũng như ngoài nước. Tất cả chỉ là nạn nhân của chế độ Cộng Sản. Hãy giúp đỡ họ thoát loài quỷ dữ cộng sản.
Hãy cẩn thận! Đừng kéo việc chống "văn hóa vận" vào chuyện đả kích "cá nhân"...
Sau khi xét nghiệm tử thi lần thứ nhất, công an huyện Việt Yên – Bắc Giang đã nói dối rằng thanh niên đó đã bị cảm mà chết. http://laodochanh.multiply.com/journal/item/345/345?replies_read=37 Tuy vậy gia đình nạn nhân vẫn thuê người xét nghiệm lần hai vì không tin con mình chết vì lí do đó. Lúc này mới biết là phần bọng đái và một số phủ lục ngũ tạng đã bị cắt bỏ.
Gia đình nạn nhân rất phẫn nộ vì việc đã không được công an huyện giải quyết cụ thể.
Ngày 25/07 gia đình nạn nhân đã vờ rằng đưa thi thể đi chôn cất nhưng lại đem quan tài đến thành phố Bắc Giang biểu tình.
Tim duoc mot nguoi cung yeu quy van hoa Viet that la hanh phuc doi voi toi, dac biet hon khi nguoi do chinh la nguoi Viet Nam. Nghe co ve ky la nhung dung la vay day.
Cám ơn bạn nhiều nha, Chúc bạn và gia đình bạn vui khỏe nhiêu nhiều .... Ròm sẻ cố gắng tập thể dục cho khỏe (để được gọi phôn cho en "lẹp") Khi nào khỏe hẳng Ròm sẻ gọi cấp tốc cho em đó nếu được Mập đồng ý hehehe ...còn Mập muốn gọi mấy chàng đó hay không tùy Titi quyết định hihihi Bạn có thể xem thêm hình ảnh về lể bể mạc World Cup 2010 và rất nhiều hình ảnh trong những trận đấu vừa qua bên NOTES : http://nam64.multiply.com/notes http://nam64.multiply.com/journal/item/1078 http://nam64.multiply.com/journal/item/1077
cám ơn anh/chị đã thăm blog của tôi. avatar tên là gulagski. tôi là kẻ ái mộ thơ của thi hào Cung Trầm Tưởng. nhìn khối lượng tài liệu đồ sộ của blog này, hh9 thật nể đó nha. mến.
Tổ tiên ta đã sống bên sông Hoàng Hà, cạnh núi Thái Sơn.
Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
để ghi dấu cái nôi văn hóa đầu tiên của dân Việt.
Thái Sơn là cái nôi văn hóa đầu tiên từ thời cổ đại của dân tộc Việt nhưng đã bị mất trong cuộc giao tranh,
đây là cuộc di tản đầu tiên của dân Việt.
Sau khi Thái Sơn bị Hoàng Đế xâm chiếm, con cháu Thần Nông đã rút về Động Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa,
Gánh vàng đi đổ sông Tương*, Đêm nằm mơ tưởng đi mò sông Ngô.
Câu ca dao này nói đến cuộc chạy loạn của tộc Việt bị giống Hoa Hạ xâm chiếm.
Đây là cuộc di tản lần thứ hai của dân Việt.
Khi Lữ Gia thất trận, các sắc tộc Bách Việt thuộc nước Nam Việt đã chạy về Phong Châu** ở phương nam hội nhập vào Âu Lạc để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa. Đây là cuộc di tản lần thứ ba
Địa điểm của núi Thái Sơn (dấu chấm)
Mất bản địa Thái Sơn (tỉnh Sơn Đông, bắc Trung Hoa), Con cháu Thần Nông đã rút quân về Động Đình Hồ để xây dựng căn cứ địa văn hóa mới cho dân Việt. Tướng của Đế Minh là Xi Vưu ở lại giữ Thái Sơn và sau ba năm chiến đấu chống tù trưởng của nòi Hán là Hiên Viên, quân của Xi Vưu tan rã và từ đó, dân Việt mất căn cứ địa văn hóa Thái Sơn. Hiên Viên chiếm được thái Sơn lên ngôi là Hoàng Đế. Ngày nay, dân tộc Việt chỉ còn câu ca dao:
Công cha như núi Thái Sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
cái nôi văn hóa đầu tiên của dân Việt.
Khi con cháu Thần Nông đã rút về Động Đình Hồ vùng Lĩnh Nam để xây dựng lại căn cứ địa văn hóa lần thứ hai, thì miền Lĩnh Nam được sử tây phương viết như sau:
“Lĩnh Nam là vùng đất phía nam của rặng Ngũ Lĩnh gồm các rặng Đại Dũ /Dữu Lĩnh, Kỵ Điền Lĩnh, Đô Bàng Lĩnh, Manh Chữ Lĩnh và Việt Thành Lĩnh. Vùng nầy gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam và Giang Tây của Trung Hoa hiện đại. Vùng nầy do dân Bách Việt sinh sống và là tổ quốc của dân Nam Việt cổ đại”
Truyền thuyết cho rằng rằng dân tộc Việt phát xuất từ Động Đình Hồ miền Lĩnh Nam. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp ở thế kỷ thứ 15 (XV) kể Truyện họ Hồng Bàng như sau:
“Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục dung mạo đoan chính, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình."
Địa lý nhà Chu bấy giờ chỉ kéo dài tới sông Hoàng Hà. Đến thời Chiến Quốc, khoảng 500 Trước Công Nguyên, một số dân tộc ở Nam Trung Hoa mới xuất hiện trong sử Trung Quốc. Nổi bật nhất là các nước Sở, nước Ngô và nước Việt.
Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà.
Đến đời Tần Hán (256-195 TCN), khi các nước Sở, Ngô, Việt bị Tần Thủy Hoàng sát nhập vào Trung Hoa, phía nam nước Sở vẫn còn là chủ quyền của các dân tộc Bách Việt hoàn toàn độc lập và tự chủ. (Xem bản đồ Trung Hoa thời Tần Thủy Hoàng. Như thế cho đến khoảng 195 năm Trước Thiên Chúa, một vùng địa lý to lớn miền Hoa Nam ngày nay là lãnh thổ của các giống dân Việt. Khi Lưu Bang cướp ngôi nhà Tần ở phương bắc, thì ở phương nam, Triệu Đà thống lĩnh các nước Bách Việt trong đó có cả nước Âu Lạc của tổ tiên chúng ta để lập ra nước Nam Việt. Đó là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ nhất.
Nhà Triệu truyền ngôi được bốn đời thì bị nhà Hán xâm chiếm và miền Lĩnh Nam bị bắc thuộc từ đó.
Đến thời kỳ Hai Bà Trưng, 40 năm Sau Công Nguyên, Hai Bà đã chiếm lại toàn vùng Hoa nam. Sử viết: “Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam. Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương.”
Đây là cuộc thống nhất Bách Việt lần thứ hai.
Truy tầm nguồn gốc Bách Việt của dân tộc Việt cần để ý các vấn đề sau đây:
• Từ thời cổ đại cho đến khi nhà Triệu mất ngôi (111 TCN), dân tộc Việt đã chiếm lĩnh miền Hoa Nam. Một số nước Việt giáp biên giới với nhà Chu thường được đề cập đến trong sử sách Trung Hoa, đó là Sở (Kinh Việt), nước Việt (với Việt Vương Câu Tiễn), Ngô Việt (với Ngô Phù Sai). Khi nhà Tần thống nhất thiên hạ, các nước Việt trên bị sáp nhập vào nhà Tần. Còn các nước Việt khác như Âu Việt, Mân Việt, Thái Việt, Điền Việt, Lạc Việt, Việt Thường và một số nước Việt khác phía nam vẫn còn giữ được nền độc lập.
• Cần nghiên cứu thêm nguồn gốc của chữ "người Kinh". Cổ sử Trung Hoa dùng chữ “người Kinh” để nói đến dân tộc Sở và một số dân tộc phía nam sông Hoàng Hà. Tại sao ngày nay người Việt tự gọi là người Kinh để phân biệt người Việt với người thuộc chủng tộc khác.
• Cần xem khám phá của Stephen Oppenheimer tác giả Eden in the East: The Drowned Continent of Southeast Asia (Địa Đàng ở Phương Đông: Lục Địa Đông Nam Á Bị Chìm Dưới Đáy Biển) để thấy nền văn minh Hoa Nam trải dài xuống Đông Nam Á và các hải đảo ở Thái Bình Dương. Các dân tộc như Mân Việt, Ngô Việt, Âu Việt gồm các bộ tộc, Phúc Kiến, Triều Châu, Quảng Đông, Quảng Tây, Hẹ, Hải Nam, Đài Loan, Thái, Nam Dương và các thổ dân ở vùng đảo Thái Bình Dương đều có nguồn gốc Bách Việt.
• Do các dân tộc Bách Việt đã sinh sống ở miền Hoa Nam trước khi vùng nầy bị Tần Hán xâm lược, dân Việt phải là chủ nhân ông nền văn hóa thời bấy giờ. Các khám phá khảo cổ về văn minh Hoa Nam trước thời Tần và Hán thuộc phải được coi là chỉ dấu của văn minh Việt, chứ không thể là của Hán tộc. Người Việt cần phải coi đó là di sản của Việt tộc và phải mạnh dạn giành lại chủ quyền văn hóa của mình.
Quốc hồn và quốc túy của một dân tộc là gốc của lịch sử. Một dân tộc mất quốc hồn và quốc túy là một dân tộc sẽ bị lịch sử đào thải. Tìm về cội nguồn chính là quá trình tìm lại hồn sử.
°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°๑°
**Trong 10 thế kỷ thời Bắc Thuộc: • Đất Lĩnh Nam – miền Nam núi Ngũ Lĩnh – hay “Quảng Châu” và các thị tộc “Bách Việt” sống trên đó đều dần dần bị Hán hóa, bị đồng hóa.
• Nhưng đất “Giao Châu” của ta (như tên gọi sau này) lại làm ngược: Việt hóa những người Hán trôi dạt xuống miền Nam, hoặc được phái xuống cai trị dân Nam.
Từ những mảnh vụn của thời Bắc Thuộc mà gom lại thành một thực thể thống nhất và vững mạnh hơn, đó là công lao của nhà Lý. Đại Việt khi ấy thực sự là cường quốc Đông Nam Á.
**Sông Tương hay là Tương Giang hoặc Tương Thủy là chi nhánh của con sông chính Trường Giang chảy qua tỉnh Hồ Nam. Sông Tương phân thành hai dòng và cùng đổ vào hồ Động Đình.
**Sông Trường Giang, hay sông Dương Tử Giang (Yangtze Kiang), (Yangtze Kiang), còn có tên gọi là Sông Dương Tử, Yangtse).
Sông Dương Tử (Yangtse River)
---------------------------------------------- Bách Việt (Yue Peoples) & Lạc Việt (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt
Bach Viet (Yue Peoples) Truth-Yue/Bách Việt
Bai Yue and their descendents have always lived on rivers and have become masters of irrigation systems for wet paddy rice cultivation. Even today they construct weirs, bamboo aqueducts, Persian waterwheels, which extracts power from the flow to raise water, foot-powered pumps that move a train of bamboo buckets from the flooded side to the non-flooded side.
They were also expert in fighting from shallow draft boats, which would sweep down a river with warriors in feathered headdresses at the gunwales shooting poison arrows at a larger foot or mounted force caught on the bank.
Family life and names were strikingly different from those of the Han. Barlow suggests that the common family name Huang, Chinese 黄, was homophonous in Zhuang with Wang 王 ‘king’ and was less a surname and more a title, cf. as an example the Vietnamese figure Hùng Vương (King of Hùng), the ruler of Vӑn Lang.
Source: The Power of Language Over the Past Jerold A. Edmondson Department of Linguistics and TESOL The University of Texas at Arlington Arlington, TX 76019-0559 USA J.Edmondson@sbcglobal.net
Yue Peoples (Luo-Yue = Vietnamese) Luo Yue/Lạc Việt
…. “About 2,000 or more years ago, South of Dương Tử river existed a distinct culture called Bách Việt or 100 Việts (the Chinese even grudgingly admit this fact) of which the modern Vietnamese and the Thais are decendents. (In fact, Thai and Viet languages shared common grammar and basic words, giving the geographical separation, it is even more amazing. Lạc Long Quân and Âu Cơ may have some relation here).
In this Bách Việt culture, the people already invented the rice culture and the bronze civilization. "Mười Hai Con Giáp" (12 animals horoscope) is not a Chinese invention, it's Bách Việt, therefore; it is very Vietnamese in nature. Ask yourseves why the Chinese call one of their five gods Thần Nông (Shennong: god of agriculture) but not Nông Thần (as it is the correct grammatical way to say in Chinese). Yet, Thần Nông sounds perfectly Vietnamese. What's more? Kinh Dịch (I-Ching, Book of Change) is an invention of the Bách Việt too. Again, why don’t they (Chinese) say it Dịch Kinh as it's supposed to in Chinese grammar? Yet, Kinh Dịch sounds perfect in Vietnamese. If you carefully look at the face of any bronze drums you'll see the Quẻ (trigrams and hexagrams) symbols. A student of Kinh Dịch will easily detect that. Phong Thủy (Fong Shui) is a branch of Kinh Dịch.
The Tần dynasty and subsequent dynasties expanded southward and applied a policy of culture genocide. They systematically destroyed all cultures in the countries that they invaded (they are doing it right now at this moment in Tibet), rewrote the history and claimed for themselves any advancements as to be theirs, invented by the Hán race. The Cantonese, Hẹ, Tiều etc... Once, were part of Bách Việts; however, they were assimilated by the Han. Even so, they were able to maintain some form of their original languages; therefore, their Chinese sound funny. 900 years of Chinese domination in Vietnam, the Han failed to do the same thing to the Vietnamese. The Vietnamese were able to resist and prosper as a result. The entire Southeast Asian countries should be grateful for Vietnam, otherwise there wouldn't be Campuchia, Thailand, or Malaysia etc…
LỜI PHÁT BIỂU CỦA CỐ Tổng Thống NGUYỄN VĂN THIỆU TRONG NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA 19 - 6 - 1973
Chiến hữu các cấp:
Cách đây đúng (1) một năm, cũng vào Ngày Quân Lực, tôi đã ra lệnh cho anh em thừa thắng xông lên để tái chiếm lãnh thổ. Đúng ba tháng sau, anh em đã đánh bại quân cộng sản xâm lược trên khắp các chiến trường chính yếu, và những lãnh thổ trọng yếu đã được tái chiếm. Thời gian ba tháng đó là thời gian quyết định.
Những chiến thắng đó là những chiến thắng quyết định. Quyết định sự thảm bại sau cùng, trong những cố gắng sau cùng của quân cộng sản xâm lược kể từ tết Mậu Thân 1968. Đồng thời, buộc chúng ngày 3 tháng 6 mới đây: Ngưng bắn lại được cộng sản cam kết thêm một lần nữa, nhưng trong những ngày qua, chúng lại vẫn tiếp tục vi phạm trầm trọng hơn nữa. Như vậy, đủ xác nhận rằng chủ trương của cộng sản không phải là vãn hồi hòa bình bằng một giải pháp ôn hòa dựa trên tinh thần hòa giải quốc gia, hòa hợp dân tộc và cùng thực hiện tổng tuyển cử tự do dân chủ để thực thi quyền dân tộc tự quyết của nhân dân Miền Nam. Trái lại càng xác nhận rằng bản chất của cộng sản vẫn là hiếu chiến, chủ trương của cộng sản vẫn là chiến tranh xâm lược. Ý đồ của chúng vẫn là thôn tính trọn vẹn Miền nam bằng vũ lực và bạo tàn.
Với kinh nghiệm từ 1954, qua những hiệp định về Việt Nam và các quốc gia láng giềng, với kinh nghiệm hiệp định Paris hôm nay, với những vi phạm tiếp diễn so với thông cáo chung ngày 13 tháng 6 vừa qua, cộng sản chỉ ký kết hòa ước để tự cứu nguy khi chúng bị thảm bại, nhưng đồng thời để chuẩn bị một cuộc xâm lăng mới. Cho nên, không còn ai ngây thơ tin rằng cộng sản sẽ tôn trọng ngưng bắn nghiêm chỉnh để vãn hồi hòa bình thực sự tại phần đất này.
Nhân dân Miền Nam hơn ai hết lại càng không thể ngây thơ tin tưởng rằng cộng sản đã từ bỏ ý đồ xâm lăng để có hòa bình thực sự bền vững tại phần đất này. Chiến hữu các cấp trước ai hết, anh em lại càng phải thấy rằng hòa bình dù mỏng manh như hiện tại cũng không phải là một món quà tự nhiên mà có, ngồi chờ tự dưng nó đến. Càng không phải nhờ sự kêu gọi thiện chí hay van xin lòng nhân đạo của cộng sản mà được, như một số người chủ bại ngây ngô lầm tưởng. Trái lại, hòa bình mà không nô lệ cộng sản là nhờ nơi sức mạnh, tinh thần, ý chí của cả dân tộc quyết tâm chiến đấu để tự tồn, thực hiện bằng xương bằng máu của hàng ngàn hàng vạn thân xác anh em, bằng hy sinh vô bờ bến cùa hàng ngàn, hàng vạn đồng bào. Hòa bình mà phải tước đoạt cam go từ trong tay một kẻ thù vô cùng bạo tàn khát máu. Vậy giá của hàng chục hàng trăm thị tứ xóm làng điêu tàn đổ nát của Miền Nam thân yêu của chúng ta. Chính nhờ ý chí kiên trì, sức mạnh của dân quân Miền Nam chúng ta kết hợp cùng những dân tộc yêu chuộng hòa bình và tự do trên khắp thế giới mới buộc được cộng sản ký kết hòa bình hồi tháng giêng năm nay. Rồi những tháng vừa qua, cũng với ý chí kiên trì và sức mạnh bằng xương bằng máu mà quân dân Miền Nam chúng ta mới chận đứng đuợc cộng sản giành dân lấn đất.
Suốt 18 năm trường, không khi nào cộng sản nghĩ đến chấm dứt xâm lăng vì thiện chí hòa bình hay vì tình thương dân tộc, mà cộng sản chỉ buộc phải dừng bước xâm lăng khi chúng bị ta đánh bại. Cho nên cộng sản cũng không khi nào từ bỏ ý định tái chiếm xâm lăng nếu không thấy rằng tái xâm lăng rồi cũng bị quân ta đánh bại. Đó là lý do mà Miền Nam chúng ta phải mạnh, phải duy trì và kiện toàn sức mạnh quân sự, phải có sức mạnh quân sự với một quân đội quyết chiến quyết thắng mới ngăn chặn được xâm lăng tái diễn, mới bảo đảm hòa bình lâu dài, và chỉ có sức mạnh quân sự sẵn sàng đánh bại mọi hoạt động quân sự của cộng sản; chứ không có gì khác hơn mới làm cộng sản tôn trọng mọi hiệp định hòa bình mà chúng đã ký kết.
Cho nên Ngày Quân Lực năm nay không chỉ để đánh dấu chiến thắng mà các anh em đã đạt được, mà còn để biểu dương sức mạnh thì chúng ta phải tiếp tục kiện toàn để biểu dương ý chí quyết chiến, quyết thắng mà anh em phải tiếp tục nuôi dưỡng. Trước một kẻ thù gian manh lật lọng là cộng sản, tôi kêu gọi toàn thể anh em hãy không ngừng đề cao cảnh giác tột độ để ngăn chặn hữu hiệu, phản ứng kịp thời và mãnh liệt mọi hành động giành dân lấn đất của chúng. Hãy liên tục rèn kén chỉnh quân, trui luyện chí khí, trao dồi tác phong, cải tiến chiến thuật, canh tân kỷ luật để đập tan mọi công cuộc tái phát xâm lược của chúng. Anh em đã làm được sứ mệnh đánh bại xâm lăng, xây dựng hòa bình thì nay anh em phải làm được sứ mạng ngăn chận tái xâm lăng, bảo vệ hòa bình.
Chiến hữu các cấp:
Hôm nay trước quốc dân với sự có mặt của những đơn vị chiến thắng về đây đại diện cho những đoàn quân chiến thắng. Những cá nhân xuất sắc về đây đại diện cho những quân, binh chủng xuất sắc, những cấp chỉ huy về đây đại diện cho toàn thể quân đội anh hùng. Tôi long trọng tuyên dương toàn thể Quân Lực chiến thắng và anh hùng. Tôi kính cẩn nghiêng mình trước các anh em đã hy sinh. Tôi gửi lời thăm các anh em đang điều trị. Tôi gửi lời thăm các anh em đang gìm tay súng bảo vệ đất nước. Tôi gửi lời thăm các anh em đã trở về từ ngục tù cộng sản. Tôi sốt sắng cầu nguyện cho các em đang còn trong ngục tù cộng sản. Tôi gửi lời thăm các cựu chiến binh, các cháu cô nhi, các chị em quả phụ toàn quốc. Nhân dân ghi ơn tất cả các bạn, đất nước hãnh diện nơi các bạn.
Ròm có lập trường riêng của Ròm ,Không ai thay đổi được đâu .Web ,Blog có thể bỏ bất cứ lúc nào ,không để cho nó ảnh hưởng tới cuộc sống hiện tại bên ngoài (1 trong những lập trường của Ròm ) Cám ơn bạn nhắc nhở .
Trong 20 năm chiến tranh Quốc Cộng, miền nam và người dân miền nam đã được bảo vệ tự do, dân chủ và nhân phẩm. Cám Ơn Anh - Người Lính Việt Nam Cộng Hòa
ANCIENT VIETNAMESE LANGUAGE & WRITING (KHOA ĐẨU) SYSTEM
Khoa Đẩu System
Tìm Lại Cội Nguồn Tổ Tiên - Cội Nguồn Văn Hóa
Trên đây là những nét lớn, có tính khái quát. Đi vào cụ thể, ta điểm qua vài chứng cứ bằng văn tự như sau:
Theo cuốn sử sớm nhất của Trung Quốc là Sử ký thì chủng tộc Việt Nam bắt nguồn từ nhà Hạ (2205-1770 TCN). Câu Tiễn (505- 465 TCN) vua nước Việt là hậu duệ của vua Hạ Vũ. Nước Sở của Khuất Nguyên cũng là dòng Việt bởi vậy Khuất Nguyên mới ai oán tiếc thương dòng giống Việt trong Sở Từ: Răng đen mình trổ dọc ngang. Xăm mình, cắt tóc ngắn, nhuộm răng đen là đặc điểm của người Việt thời đó.
Trước đây, chúng ta mang mặc cảm là đám Tàu lai bị xua đuổi, liều chết chạy về Nam theo bản năng sinh tồn nên vẫn cho mình là kẻ nhập cư trên đất đai người khác, nhất là khi phát hiện ra trong huyết quản đậm phần máu Mongoloid. Trước những nền văn hóa rực rỡ Hòa Bình, Phùng Nguyên của người tiền sử, chúng ta cũng tự hào nhưng là niềm tự hào vay mượn bởi mặc cảm của kẻ khác chủng tộc, không liên hệ gì đến chủ nhân của những nền văn hóa đó!
Rồi chúng ta phát hiện ra rằng: tổ tiên ta từ đất nước Việt Nam đã mang gươm (rìu đá) đi mở cõi khai thác mở mang đất nước Trung Hoa, tại đây xuất hiện vị tổ gần hơn là Thần Nông vùng Thái Sơn từng giáo dân nghệ ngũ cốc. Tổ tiên đã mở đất, đã chiến đấu kiên cường với kẻ xâm lấn rồi khi không thể ở lại được đã trở về mái nhà xưa. Chính những hậu duệ đi xa trở về này do phải tiếp xúc, đối đầu với nền văn minh du mục, với kẻ địch mạnh đã trở nên mạnh mẽ và khôn ngoan hơn. Điều khôn ngoan nhất mà các vua Hùng đem đến cho người Việt phương Nam là tổ chức nhà nước. Chính nhà cầm quyền dù còn lỏng lẻo này đã làm thay đổi về chất trong quan hệ của cộng đồng Việt: từ quan hệ bộ tộc chuyển sang quan hệ quốc gia. Quan hệ này giúp các vua Hùng sáng tạo nên văn minh Đông Sơn rực rỡ và có được sức mạnh trong đấu tranh với kẻ thù.
Tới đây, tự nhiên nảy sinh câu hỏi: Vì sao trong thời gian hàng vạn năm, số dân Bách Việt tăng nhanh, phạm vi phân bố mở rộng ra mênh mông, trong khi người Mông Cổ số dân tăng không đáng kể và chỉ loanh quanh ở mạn Bắc sông Hoàng Hà? (Bằng chứng xã hội học cũng như di truyền không cho thấy người Mongoloid phương Bắc có mặt ở châu Mỹ).
Có thể lý giải điều này bằng ba nguyên nhân: khí hậu, thổ nhưỡng, phương thức sống và di truyền:
1/ Khí hậu lạnh không tạo thuận lợi cho sinh sản. Dân số tăng chậm không đòi hỏi mở rộng vùng phân bố.
2/ Phương thức sống du mục nên người Mông sống bám vào đồng cỏ cao nguyên, không có khả năng chinh phục miền đất ẩm thấp mạn Nam sông Hoàng.
3/ Người Mông phương Bắc mang gen từ tổ tiên Mongoloid thiên di lên và sống biệt lập nên không kịp hòa huyết với chủng người khác, trong bộ gene tương đối thuần của họ mang khả năng sinh sản thấp. Điều này còn thấy trong chủng Mongoloid hiện nay.
Từ đó có thể rút ra kết luận: việc xuống phía Nam hòa huyết với người Bách Việt mang dòng máu Indonesien, Melanesien và trồng lúa nước mở ra vận hội lớn đối với người Hán, chẳng những đã cứu họ thoát khỏi tình trạng sinh sản thấp như người Mông Cổ đồng chủng mà còn cho họ hưởng nền văn minh nông nghiệp phát triển rực rỡ. Chính ba yếu tố này tạo nên dân số đông đúc cùng văn hóa ưu tú của dân tộc Trung Hoa hiện đại. Như vậy là một cách ngắn gọn, tôi đã trình bày một phần về CỘI NGUỒN TỔ TIÊN.
Sở dĩ chỉ dám nói một phần vì còn một câu hỏi vô cùng khó chịu chưa được trả lời: NHÀ TRIỆU CÓ VAI TRÒ GÌ TRONG LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT?
Từ khi giành lại quyền tự chủ, các triều đại Việt đều đề cao vai trò lịch sử của Triệu Đà. Nhà Trần phong ông là Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế. (25) Đại Việt sử ký toàn thư ghi: "Họ Triệu nhân lúc nhà Tần suy loạn, giết trưởng lại nhà Tần, chiếm giữ đất Linh Nam xưng đế, đòi ngang với nhà Hán, hưởng nước truyền ngôi 100 năm mới mất, cũng là bậc vua anh hùng." Sử gia Lê Văn Hưu nói: "Thế mới biết, người giỏi trị nước không cứ đất rộng hay hẹp, người Hoa hay Di, chỉ xem ở đức mà thôi. Triệu Vũ đế khai thác đất Việt ta mà tự làm đế trong nước, đối ngang với nhà Hán, gửi thư xưng là "lão phu", mở đầu cơ nghiệp đế vương cho nước ta, công ấy có thể nói là to lắm vậy." Trong An Nam chí lược, Lê Tắc viết: "Triệu Đà làm vua Nam Việt, mới lấy thi lễ giáo hóa nhân dân một ít." Điều này chứng tỏ Triệu Đà là người mang sự học đến nước ta từ trước chứ không phải Sĩ Nhiếp. Đến nhà Lê, trong Bình Ngô đại cáo, Nguyễn Trãi viết: Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần nối đời dựng nước. Như vậy, Nguyễn Trãi thừa nhận Triệu Đà là ông vua đầu tiên của nước ta từ thời có sử.
Hàng ngàn năm, chính sử Việt Nam ghi nhận vai trò lịch sử lớn lao của nhà Triệu. Đến thế kỷ XVIII, Ngô Thì Sĩ (1726-1780) trong Việt sử tiêu án viết: "Nước ta bị nội thuộc vào nước Tàu từ đời Hán đến Đường, truy nguyên thủ họa chả Triệu Đà thì còn ai nữa? Huống chi Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả thôi. Đến như việc xướng ra cơ nghiệp đế vương trước tiên, tán tụng Triệu Đà có công to, Lê Văn Hưu sáng lập ra sử chép như thế, Ngô Sĩ Liên theo cách chép hẹp hòi ấy, không biết thay đổi, đến như bài Tổng luận sử của Lê Tung, thơ vịnh sử của Đặng Minh Khiêm thay nhau mà tán tụng, cho Triệu Đà là bậc thánh đế của nước ta. Qua hàng nghìn năm mà không ai cải chính lại vì thế mà tôi phải biện bạch kỹ càng." (26)
Cho đến nay, trong giới sử học, việc đánh giá Triệu Đà vẫn có hai luồng ý kiến ngược nhau. Là kẻ ngoại đạo không dám lạm bàn, tôi chỉ xin lục ra một số tài liệu lịch sử hầu bạn đọc tham khảo.
Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên viết: "Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà, người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận để đưa những người bị đày đến ở lẫn với người Việt. Như thế đã mười ba năm. Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ vương. Đà bèn tự tôn làm "Nam Việt Vũ đế", đem quân đánh các ấp ở biên giới quận Trường Sa. Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp biên giới, đem của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình. Đất đai của Đà chiều ngang có hơn vạn đặm, Đà bèn đi xe mui lụa màu vàng, cắm cờ tả đạo, mệnh gọi là "chế", chẳng kém gì Trung Quốc." "Đến thời Hiếu Cảnh, Đà vẫn xưng thần, sai người vào chầu. Nhưng trong nước Nam Việt thì vẫn trộm xưng danh hiệu "đế" như cũ; còn khi sai sứ sang thiên tử thì xưng "vương", triều kiến thỉnh mệnh như các chư hầu." (27)
Triệu Đà làm vua 70 năm (từ 207 đến 137 TCN), tiếp đó cháu chắt ông truyền 4 đời trị vì 27 năm nữa, đến năm 111 TCN nước Nam Việt vào tay nhà Hán. Nhà Triệu kéo dài được 97 năm.
Phủ Biên tạp lục của Lê Quý Đôn ghi: "Đem số thống kê dân số chép ở sách Hán chí mà so thì nước ta được ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, hơn 20 huyện, đời Hán số thống kê cộng là 143.743 nhà, số gia đình cộng là 981.827 người. Thông tính cả hai tỉnh ấy (Quảng Đông, Quảng Tây) ở đời Hán số dân chỉ là 71.805 nhà, gia đình chỉ là 389.672 người. Như thế nước ta ở đời Hán thì số dân gấp đôi mà số gia đình gần gấp ba."(28).
Như vậy, vào năm 220 TCN, nhà Tần chiếm đất của người Việt ở phía Nam sông Dương Tử, và đưa những tội nhân người Hán đến ở chung với người Việt để thực hiện ý đồ lấn đất. Do nhà Tần sụp đổ, thiên hạ đại loạn tạo cơ hội cho Triệu Đà cát cứ.
Tuy xưng vương ở Phiên Ngung nhưng số dân của Triệu ít. Trong khi đó ở phía Nam, nước Âu Lạc của An Dương vương khá mạnh, số dân gần gấp 3 số dân của Triệu. Bên cạnh Âu Lạc còn có các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc luôn tranh chấp. Nước Âu Lạc tuy lớn nhất trong khu vực nhưng cũng quá nhỏ so với nhà nước phương Bắc.
Nếu nhà Tần không sụp đổ đúng thời điểm đó, có nhiều khả năng:
- Tằm ăn dâu: nhà Tần sẽ thôn tính đất Nam Việt. - Một khả năng khác: trong cuộc chinh phạt Nam Việt trị tội Triệu Đà xưng đế, nếu tướng Lâm Lư hầu thắng, nhà Hán chiếm Nam Việt ngay lúc đó, có phần chắc Nam Việt cũng bị đồng hóa như các dòng Bách Việt khác. - Khả năng thứ ba: nếu Triệu Đà theo nhà Hán, sau khi thôn tính Âu Lạc, sáp nhập Nam Việt vào Hán thì có phần chắc là Nam Việt bị xóa sổ trên bản đồ!
Nhìn vào thực tế nước Âu Lạc của Thục Phán, ta thấy, Tục Pắn (tên Việt của Thục Phán) là người Ba Thục trốn chạy nhà Tần đến nương nhờ Lạc Việt, đã chiếm ngôi của vua Hùng, lập nên Âu Lạc. Ban đầu Tục Pắn bị xem là kẻ thoán đoạt cướp ngôi nên bị người Lạc Việt chống lại (sự tích xây Loa Thành bị đổ). Nhưng rồi sau do chính sách cai trị khôn ngoan, nhất là sau hai lần đánh thắng Triệu Đà, đã được người dân tín nhiệm. Về cuối đời do mất cảnh giác nên bị Triệu Đà dùng mưu thôn tính. Đúng là Triệu Đà dùng thủ đoạn chiếm nước Âu Lạc nhưng ý nghĩa của sự kiện lịch sử này cần phải bàn.
Thời đó, sự liên kết trong mỗi quốc gia còn lỏng lẻo và biên giới từng quốc gia chưa phân định, đang trong xu hướng sáp nhập tập trung thành những quốc gia đủ mạnh để tồn tại. Việc thôn tính các nước Sở, Ngô, Việt... để thành nước Tần không phải hành động xâm lược mà là công lớn thống nhất đất nước. Tương tự vậy, việc Triệu Đà chiếm Âu Lạc cũng không thể coi là cuộc xâm lược mà là hành động thống nhất những nhóm, những tiểu quốc người Việt lại thành một nước Việt lớn hơn, ngăn chặn hành động thôn tính của kẻ mạnh ở phương Bắc. Điều quan trọng là họ Triệu đã duy trì được nước Nam Việt thống nhất trong gần một thế kỷ, vừa xây dựng trong hòa bình vừa kiên cường chống ngoại xâm. Chính điều này đã tạo nên và củng cố tinh thần quốc gia của người Việt. Đây là di sản quý báu nhất họ Triệu để lại cho người Việt. Chính gần một thế kỷ tồn tại của quốc gia Nam Việt giúp cho người Lạc Việt không bị người Hán đồng hóa và sau này có dịp lại vùng lên trong khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Nếu không có may mắn một trăm năm Nam Việt ấy, dám chắc người Hán sẽ diệt tiểu quốc của Triệu Đà sau đó thôn tính Âu Lạc, tộc Lạc Việt đã bị mất hút trong lịch sử như những dòng Việt anh em khác!
Các sử gia như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên... đã nhìn nhận công bằng và Nguyễn Trãi đánh giá họ Triệu một cách chuẩn mực. Sử gia Ngô Thì Sĩ khi viết : "Triệu Đà chia nước ta làm quận huyện, duy chỉ biết biên số thổ địa, thu thuế má, cung cấp ngọc bích cho nhà Hán, đầy túi tham của Lục Giả" đã tỏ ra bất cập. So với một quốc gia còn trong tình trạng nguyên thủy với những lạc hầu lạc tướng cai quản từng bộ lạc thì một quốc gia có quận huyện, biên số thổ địa là bước nhảy vọt về tổ chức hành chính, về khoa học quản lý xã hội. Còn nói "thu thuế má cung cấp ngọc bích cho nhà Hán" cũng không đúng. Suốt 70 năm Triệu Đà làm vua, quan hệ Việt Hán khá lỏng lẻo. Biết Triệu xưng đế mà nhà Hán đành chịu, không những thế còn phải lấy lòng bằng cách giữ gìn mồ mả tổ tiên của Triệu, cho thân nhân Triệu làm quan (Sử Ký). Trong mối quan hệ như vậy, cống phẩm của Triệu Đà chỉ có nghĩa tượng trưng để xác nhận sự thần phục trên danh nghĩa nên không thể làm đầy túi tham của Lục Giả, không thể so sánh với việc cống người vàng thời Trần-Lê. Rõ ràng, chứng lý đưa ra để kết tội Triệu Đà là không thuyết phục. Nhưng vì sao Ngô Thì Sĩ lại có cái nhìn việc thiếu chuẩn mực như vậy? Chỉ có thể là, với tinh thần dân tộc hẹp hòi, có phần thiển cận, ông không chịu một ông vua người Hán tộc! Trong lịch sử thế giới, một người nước này làm vua nước khác không hiếm. Ngay bên chúng ta, tới cuối thế kỷ XVIII, vua nước Xiêm là một người Trung Quốc tên Trịnh Quốc Anh từng kéo quân sang đánh Hà Tiên. Còn với chúng ta thì đúng Triệu Đà là người Hán nhưng dân Nam Việt lúc đó hầu hết là người Việt, vì vậy không thể phủ nhận việc ông là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, ông vua khai sáng của Việt Nam chúng ta. Mặt khác, vợ ông là Trình Thị người Đường Thâm, Giao Chỉ nên con ông, Trọng Thủy ít nhất có nửa phần máu Việt, còn cháu ông là Triệu Hồ có một phần máu Việt, đến Anh Tề, phần máu Việt cao hơn. Họ Triệu chẳng những có công khai sáng Nam Việt mà ngày càng gắn bó bằng tâm hồn bằng máu huyết với Tổ quốc mới của mình!
Một câu hỏi cần phải trả lời gấp: Triệu Đà ông là ai? Người Tàu không nhận ông là Tàu vì ông là Nam Việt hiệu úy. Còn với người Việt ông bị coi là giặc Tầu xâm lược! Vậy ông là ai?!
Ruột bỏ ra da ôm lấy từng là nỗi đau của bao người. Mồ cha không khóc lại khóc đống mối từng là bi kịch của không ít gia đình, dòng họ... Nhưng vì những lầm lẫn mà chối bỏ người sáng lập ra quốc gia, chối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau nỗi nhục của cả một dân tộc! Đã đến lúc vụ án Triệu Đà -Trọng Thủy phải được tính lại.
CỘI NGUỒN VĂN HÓA
Trong khi trình bày vấn đề cội nguồn tổ tiên, tôi đã phần nào nói tới cội nguồn văn hóa. Đấy là những nền văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình, Bắc Sơn, Đông Sơn... tổ tiên ta đã làm ra trên đất Việt Nam. Một vấn đề cần làm rõ: trong khoảng thời gian hàng vạn năm sống ở Trung Nguyên, người Việt đã sáng tạo ra những gì?
Không làm ra những kỳ tích như Hòa Bình, Bắc Sơn nhưng những người Việt xa quê này không ngừng sáng tạo: thuần hóa gia súc, trồng lúa nước, làm ra đồ gốm, trong đó có cái chõ Tam biên (để đồ xôi) rất đặc trưng rồi đúc trống đồng, đúc Cửu đỉnh. Người Việt ở đây cũng kết thằng tức bện dây làm lưới đánh cá... Cùng với những văn hóa vật thể ấy, trong hàng vạn năm duy trì một xã hội nông nghiệp ổn định, người Việt phương Bắc cũng sáng tạo nên nền văn hóa phi vật thể phong phú. Đó là những kinh nghiệm về thời tiết về cây trồng mà bà Nữ Oa là bậc thầy có tài đội đá vá trời (cách nói hình tượng của việc quan sát nắm vững thời tiết), những kinh nghiệm về thích nghi với thiên nhiên, đối xử với hàng xóm láng giềng. Từ những vết chân chim in trên phù sa, cha ông ta làm ra chữ viết: chữ kết nút, chữ hình con nòng nọc (chữ Khoa Đẩu), chữ hình ngọn lửa (Hỏa Tự), dùng mu rùa bói toán... Hoài niệm về thời Nghiêu Thuấn mà có lúc chúng ta cười diễu các cụ say giấc mơ Tàu thì thực ra lại chính là hồi quang của lối sống Việt tận nguồn: thế giới hòa đồng, con người hòa thuận với thiên nhiên, sống với nhau nhân ái, dân chủ.
Khi tràn xuống Trung Nguyên, người Hán du mục bắt gặp một cuộc sống mới cùng nền văn hóa mới. Khi kẻ xâm lấn tràn tới, thành phần quý tộc tinh hoa của các bộ tộc Việt bỏ chạy về Nam, còn một số khác bất hợp tác thì vào rừng lẩn trốn thành người thiểu số còn đại đa số dân Việt thích ứng với cuộc sống mới. Cuộc săn đuổi và trốn chạy diễn ra dài dài trong lịch sử, kể đến nhiều nghìn năm. Trong thời gian dằng dặc ấy, chữ Việt ban đầu được viết với bộ Mễ (lúa gạo - chỉ dân trồng lúa nước) bị kẻ chiến thắng đổi thành chữ Việt với bộ Tẩu (vượt - chỉ người Việt chạy vượt qua sông Dương Tử). Trong khi đó người Việt ở lại sống chung với quân xâm lược được gọi là Miêu. Do số dân quá ít, khi đối mặt với kẻ chiến bại đông đảo, kẻ chiến thắng Hán tộc đã áp dụng thái độ ứng xử khôn ngoan với tộc người Miêu này. Khác với người Aryen du mục khi chinh phục Ấn Độ đã áp chế người bản địa Dravidiens bằng chế độ nô lệ hà khắc để lại những di họa đến bây giờ, người du mục Hán tộc giữ vai trò lãnh đạo và chuyển sang làm thương nghiệp, công nghiệp còn để cho người Miêu Việt làm công việc nặng nhọc là trồng trọt, chăn nuôi và đi lính. Lúc đầu choáng ngợp trước cuộc sống sung túc và văn hóa khác lạ của dân nông nghiệp, người du mục không chú ý lắm đến các vị thần, đến tín ngưỡng bản địa. Nhưng rất nhanh chóng, cộng đồng dân cư bản địa quá đông đúc đã đồng hóa kẻ xâm lăng, cả về huyết thống cả về văn hóa. Giai cấp lãnh đạo Hán tộc từ bỏ vật tổ truyền thống là con cọp trắng để nhận vật tổ của người Miêu Việt là con rồng làm vật tổ của mình, nhận luôn những ông vua thời Tam hoàng, không chỉ nhân vật chính thống Hoàng đế mà cả Phục Hy, Thần Nông làm tổ.
Tiến một bước nữa, những trí thức Hán tộc kết hợp cùng trí thức Miêu Việt tiến hành ghi chép những điều hay lẽ phải trong cộng đồng nông nghiệp Việt tộc để chế tác kinh điển. Những kinh, thư đã ra đời như vậy. Trong Luận ngữ, Khổng tử nói: "Ngô thuật nhi bất tác" (ta chỉ ghi lại mà không sáng tác). Đó là lời trung thực, nói lên đúng thực chất những gì ngài đã làm. Kinh thi bắt đầu từ sự sưu tầm ghi chép những câu ca tồn tại từ lâu trong dân gian. Về nguồn gốc kinh Dịch, người ta thường nói truyền thuyết con long mã sông Hà dâng đồ, con rùa sông Lạc dâng thư nhưng thực ra đó là những kinh nghiệm bói toán đã có từ lâu trong cộng đồng Việt miền lúa nước sông Hà sông Lạc mà trí thức Hán tộc thâu lượm, nhuận sắc nâng cao lên... Rồi kinh Lễ cũng là sưu tầm chọn lọc những điều lễ nghĩa trong thiên hạ người Việt... Như vậy, trong văn hóa Trung Hoa, sự đóng góp của Việt tộc nông nghiệp là phần chủ đạo, phần hồn phần cốt lõi. Nhìn về thực chất, bên trong nền văn minh được đóng gói dán nhãn Trung Quốc nhưng phần chế tạo ấy lại là sản phẩm của Việt tộc.
Ý tưởng về yếu tố Việt là chủ đạo trong văn hóa Trung Hoa hơn 30 năm trước đã được học giả Kim Định nhiệt tâm trình bày trong loạt sách Triết Lý An Vi như Việt Lý Tố Nguyên, Dịch Kinh Linh Thể, Cơ Cấu Việt Nho... của ông. Do lúc đó chưa biết con đường Bắc tiến của người Hòa Bình nên ông phải chứng minh khá vất vả về sự tồn tại của văn hóa Việt trên địa bàn Trung Nguyên. Khi bổ túc vào ý tưởng của ông phát kiến di truyền học hiện đại là con đường thiên di lên phía Bắc của người Việt cổ thì mọi chuyện trở nên hiển nhiên: người Việt phương Nam từng thiên cư lên, sống hàng vạn năm trên lưu vực Hoàng Hà thì cố nhiên họ là chủ nhân của những địa tầng văn hóa như Ngưỡng Thiều, Long Sơn hiện hữu nơi đó!
Những người Việt sống ở Trung Quốc làm nên phần cốt lõi của văn hóa Trung Hoa. Vậy còn người Việt tại miền Ngũ Lĩnh, Giao Chỉ để lại thành tựu riêng gì? Các sách cổ Trung Quốc như Giao Châu Ký, Ngô Lục Địa Lý Chí, Nam Phương Thảo Mộc Trạng... đều ghi chép: "Dân Lạc Việt trồng lúa mà ăn, dùng lá trà làm thức uống."... " Nuôi tằm mà dệt vải..."; "Dùng đất sét đào sâu trong đất, thái mỏng, phơi khô làm thức ăn quý để đi hỏi vợ..."; "Dùng đá màu làm men gốm..."; "Dùng mu rùa mà bói việc tương lai..."; "Họ dùng một khúc tre dài chừng hơn một thước, một đầu có trụ cao làm tay cầm, có dây buộc vào trụ nối lại đàng kia làm đàn gọi là độc huyền cầm..."; "Họ đem tính tình các con vật mà so sánh với người, rồi họ truyền tụng rằng, ngày thứ nhất trời sinh con chuột, ngày thứ hai sinh con trâu, ngày thứ ba sinh con cọp (truyện thần thoại của người Dao, gốc tích của 12 con giáp). Họ biết tìm hiểu các thức ăn nóng mát (thuyết âm dương) để trị bệnh, dùng kim đâm vào da thịt lấy máu để trị bệnh, lấy đá hơ nóng áp vào da thịt để trị bệnh." Khi một môn đệ đi đến đất Việt, xin Đức Khổng tử chỉ dạy, Ngài nói: "Người Bách Việt miền Nam có lối sống, tiếng nói, phong tục, tập quán, thức ăn uống riêng..."; "dân Bách Việt chuyên làm ruộng lúa mà ăn, không như chúng ta trồng kê và lúa mì. Họ uống nước bằng thứ lá cây hái trong rừng gọi là trà." Sách Hậu Hán thư quyển 14 viết "Dân Giao Chỉ biết nhiều nghề thủ công, luyện đúc đồng và sắt..." Sách Cổ kim đồ thư chép: "Mã Viện tâu vua, Giao Chỉ ép mía làm đường phèn: Giao Chỉ có cây mía ngọt. Đem ép lấy nước rồi làm đường phèn." "Giao chỉ làm giấy mật hương: bằng lá và vỏ cây mật hương (cây dó) trồng ở Giao Chỉ, giấy mềm, dai, thơm, ngâm nước không bở không nát."(30)
Chúng ta biết, người Hán có gốc từ Mông Cổ du mục nên nhà làm theo hình tròn gọi là lều. Trong khi đó người Việt làm nhà sàn hình chữ nhật bằng tranh tre, có mái cong mà mô hình còn thấy trong mộ táng thuộc Văn hóa Đông Sơn 2000 năm TCN. Khi định cư ở Trung Nguyên, dân Hán đã theo mô thức nhà của người Việt.
Khi tìm thấy một số gạch có hoa văn, nhiều học giả Pháp cho đó là hàng nhập về để lát bàn thờ nhưng thực ra đó là gạch lát nền nhà của người Việt thời Lý Trần tìm thấy tại nhà của Hưng Đạo vương ở Vạn Kiếp và nay càng thấy nhiều trong khi khai quật Hoàng thành Thăng Long. Một thí dụ khá khôi hài là hơn 50 năm trước, khi Bảo tàng Istambul Thổ Nhĩ Kỳ trưng bày chiếc bình gốm Hoa Lam cổ (được bảo hiểm 1.000.000 USD) người Tàu và người Nhật đến xem có phải của họ không. Nhưng khi thấy ghi trên bình Thái Hòa bát niên... Bùi Thị Hi bút (niên hiệu Lê Thánh tông) người Tàu bèn nói: "Của một ông thầy Tàu qua rồi làm chơi"(!) Đến khi khắm phá ra lò gốm men lam Chu Đậu (Hải Dương) thế kỷ XV với rất nhiều hiện vật thì các "thầy" đành chào... thua một người đàn bà Việt Nam!
Từ nhận thức trên, có thể rút ra hai kết luận:
1/ Ít nhất từ 30.000 năm TCN, sau thời kỳ băng hà, người Bách Việt là chủ nhân miền đất ngày nay có tên là Trung Quốc. Cùng với việc biến cải nơi đây thành vùng nông nghiệp lúa nước, người Bách Việt đã xây dựng nền văn hóa vật thể và văn hóa tinh thần rất độc đáo.
2/ Nếu văn hóa Việt ở Trung Nguyên đạt được những thành tựu như vậy thì điều chắc chắn là văn hóa Việt tộc ở đất tổ, ở nơi gốc phát tích sẽ rực rỡ hơn. Cho dù bị hủy hoại không ít trong thời kỳ Bắc thuộc, nhất là ảnh hưởng suy đồi của Hán nho, Tống nho nhưng do sức sống nội tại, văn hóa tận nguồn đó vẫn được người dân Việt lưu giữ bảo tồn. Vấn đề của chúng ta là chọn lọc giữa những yếu tố lai tạp để tìm ra tinh hoa văn hóa cội nguồn của dân tộc. Trong việc này, tinh thần Việt nho giúp chúng ta như một định hướng.
Tới đây, một vấn đề cần làm rõ là đánh giá vai trò người Hán đối với sự phát triển của khu vực. Vượt sông Hoàng Hà xuống phía Nam, tiếp thu mảnh đất rộng mênh mông, phì nhiêu với dân cư đông đúc và nông nghiệp, đồ đá đồ đồng phát triển, Hán tộc trong vai trò lãnh đão đã thực thi một chính sách khôn ngoan là nương theo nền nếp của người Việt, tổ chức xã hội cộng đồng dân chủ mà sau này lịch sử gọi là thời hoàng kim. Đặc điểm cơ bản của thời kỳ này là con người sống thân ái với nhau và hài hòa với thiên nhiên . Do nghề nông phát triển, lương thực dồi dào, xã hội có sự phân công ra nhiều ngành nghề khác nhau: nông, công, thương. Sau đó tầng lớp sĩ ra đời và ngày càng có vai trò lớn hơn trong xã hội. Chữ viết Hỏa tự, chữ Khoa đẩu của người Việt dần được thay thế và chữ vuông tượng hình ra đời. Từ đây, những kinh nghiệm trong dân gian được tổng kết thành kinh điển, trước hết là kinh Thi rồi kinh Dịch... Sự việc như vậy điễn ra trong vòng 1500 năm Trước Công Nguyên. Trên cở văn hóa Việt bản địa, người Hán đã bổ túc vào đó tinh túy của Hán tộc để đưa văn minh Trung Quốc lên thời kỳ phát triển rực rỡ. Văn hóa Trung Hoa là đứa con lai tốt đẹp giữa văn hóa Việt nông nghiệp và Hán du mục. Học giả W.G. Solheim II đã nhận xét:
"Đông Nam Á còn tiếp tục là một khu vực tiên tiến ở Viễn Đông cho đến khi Trung Quốc thay thế xung lực này vào nửa đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, tức khoảng 1500 năm TCN."(bđd)
Theo tôi, đấy là nhận xét thỏa đáng.
Chúng ta, người Lạc Việt, chủng người Bách Việt duy nhất do sự may mắn của số phận thoát khỏi quá trình Hán hóa, có được cương thổ riêng, giữ được tiếng nói và huyết thống riêng. Nhờ đó nhiều yếu tố Việt của văn hóa tiền sử được bảo tồn, nâng cao, là thành quả văn hóa mà hai dân tộc chung hưởng hôm nay.
Biết được cội nguồn tổ tiên và cội nguồn văn hóa, chúng ta nắm được chiếc chìa khóa thần giải đáp rất nhiều vấn đề văn hóa nhân sinh từng làm đau đầu nhiều thế hệ Việt. Câu ca dao Công cha... nói trên là một ví dụ. Do thời gian quá lâu, người Việt không thể nhớ tổ gốc cũng như đất gốc phát tích của mình là Bắc Bộ Việt Nam mà chỉ có thể nhớ trong hoài niệm vị tổ xa là Toại Nhân làm ra lửa, sau đó là Phục Hy, Thần Nông và núi Thái sông Nguồn trở thành hoài niệm ám ảnh trong tâm linh những thế hệ Việt chạy về Nam... Cũng vậy, ta cắt nghĩa vì sao trên đất nước ta lại có nhiều địa danh "Tàu"? Chính bởi vì khi khai phá lưu vực Hoàng Hà, cha ông chúng ta đã đặt cho đất ấy những tên như Hà Đông, Hà Tây, Hà Nam, Hà Nội... Khi trở về Nam, các vị nhớ tới đất cũ mà đặt tên cho những nơi vừa khai phá. Không phải vay mượn mà cha ông ta lấy lại bản quyền của mình. Không chỉ thế, đó còn là tình cảm là tâm linh tưởng nhớ cội nguồn! Cũng từ cái chìa khóa thần ấy, ta dễ dàng giải thích vì sao người Việt luôn chống Tàu nhưng lại học hỏi và tôn trọng văn hóa Trung Hoa? Bởi lẽ cha ông ta minh triết: biết phân biệt giặc Tàu xâm lược với "văn hóa Tàu" vốn là văn hóa gốc của người Việt mình!
MỘT CÁCH ỨNG XỬ VĂN HÓA
Sau hàng ngàn năm lội ngược thời gian tìm cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa dân tộc, có lẽ hôm nay nhờ thành tựu mới của khoa học nhân loại, chúng ta đã có lời đáp rõ ràng, thuyết phục. Với nhận thức mới về nguồn cội thiết tưởng chúng ta cần có lối ứng xử văn hóa mới:
1/ Chúng ta có quyền tự hào chính đáng về tổ tiên đã làm nên những nền văn hóa rực rỡ trên đất Việt. Tổ tiên ta cũng là chủ nhân ông thứ nhất khai phá đất nước Trung Hoa và sáng tạo nên văn minh Việt tộc trên vùng đất mênh mông này. Người Việt có chủ quyền chính đáng với nền văn minh gốc Việt ấy.
2/ Về mặt huyết thống, từ bản đồ gene con người, chúng ta thấy mình càng gần gũi với các tộc người anh em sống trên đất nước. Không chỉ cùng tổ tiên với người Kinh mà các tộc người anh em lại là hậu duệ của tổ tiên bám trụ lâu dài trên đất nước và sáng tạo những nền văn hóa mà hôm nay chúng ta tự hào. Đối với các tộc người anh em chúng ta cần một thái độ biết ơn và trân trọng. Đối với người Hán trên lục địa Trung Hoa, ta thấy họ cũng là bà con của ta vì trong mỗi người ít nhiều đều có một phần dòng máu của tổ tiên ta từ thuở xa xưa.
3/ Hàng ngàn năm nay người Việt giữ cái nhìn kỳ thị dị chủng dị văn với những nước láng giềng như Lào, Miên, Thái Lan và nhất là những nước hải đảo Đông Nam Á. Đấy là sai lầm mang tính lịch sử vì chúng ta chưa nhận ra được cội nguồn gốc gác của mình. Nay, với những phát hiện mới của khoa học, chúng ta nhận lại các dân tộc Đông Nam Á là anh em bà con cùng nguồn cội với mình. Đấy chính là những bộ tộc Bách Việt sau thời kỳ khai phá đất Trung Hoa đã trở lại xứ sở xuất phát của mình xây dựng nên nhà nước ở Đông Nam Á. Việc Việt Nam gia nhập gia đình Đông Nam Á là bước đi đúng hướng để sửa chữa sai lầm trong quá khứ. Từ nay chúng ta có thêm nhận thức mới: Đông Nam Á với chúng ta không chỉ là khối liên minh chính trị kinh tế mà còn là cộng đồng có chung nguồn cội sâu xa về di truyền và văn hóa. Việt Nam sẽ phát triển và ổn định trong mối quan hệ bền vững với các nước anh em trong khu vực. Không những thế, người Việt ta cũng đồng bào với người New Guinea, thổ dân châu Úc cùng các tộc người bản địa châu Mỹ. Phải chăng câu tứ hải giai huynh đệ từ xa xưa đã bao hàm nội dung nhân bản này?
4/ Hàng ngàn năm bên cạnh một cường quốc khổng lồ với nền văn hóa đồ sộ, cha ông ta luôn mang mặc cảm một quốc gia nhược tiểu, một dân tộc không có văn hóa gốc. Với nhận thức mới về nguồn cội, chúng ta tự giải phóng khỏi sự cầm tù của mặc cảm truyền kiếp đó, lấy lại niềm tự hào chính đáng: Dân tộc Lạc Việt là người duy nhất trong hệ Bách Việt còn tồn tại và kế tục sự nghiệp của một cha ông vĩ đại. Chính cha ông ta là người chủ đạo sáng tạo nên nền văn hóa rực rỡ mang tên văn minh Trung Hoa. Với nhận thức mới về cội nguồn, chúng ta mạnh dạn nhận lại văn minh Trung Hoa là của mình. Đấy là của chung mà cha ông ta ít nhất có phần hùn 51%. Việc sử dụng văn minh Trung Hoa trước đây vẫn bị coi là vọng ngoại là vay mượn thì từ nay ta sử dụng với tư cách chủ nhân có tác quyền hợp pháp.
5/ Từ nhận thức về cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa, chúng ta xác định bản sắc văn hóa Việt nam: là truyền thống sống hòa đồng với thiên nhiên, tương thân tương ái với đồng loại, là nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Có nghĩa là những yếu tố tốt đẹp nhất của Nho giáo-phần tinh hoa của văn hóa Việt tộc được tổng kết trong những kinh điển Nho giáo thời kỳ đầu. Học giả Kim Định gọi phần văn hóa Việt tộc này là Việt nho. Tôi cho rằng đó là tên gọi xác đáng cần được tiếp thu. Việt nho là văn hóa Việt khi chưa bị tầng lớp thống trị Hán tộc làm cho tha hóa trở thành Hán nho và Tống nho - công cụ đàn áp người dân, thủ tiêu dân chủ. Trong khi Nho giáo Trung Hoa bị suy đồi thì những yếu tố Việt nho vẫn tồn tại trong cộng đồng người Việt Nam như một truyền thống văn hóa tốt đẹp. Đáng tiếc là do nhận thức chưa đúng về nguồn cội nên chúng ta ngộ nhận cho tất cả đều là của Tàu nên chối bỏ. Cần khẳng định đó là văn hóa đặc hữu của người Việt và lấy làm chỉ tiêu để gạn bỏ yếu tố Hán và Tống nho bị tra vào văn hóa Việt do chủ trương đồng hóa của kẻ xâm lược phương Bắc.
6/ Cho dù hôm nay đang đối mặt với những khó khăn chồng chất nhưng từ cội nguồn tổ tiên cội nguồn văn hóa chúng ta có lý do để tin tưởng rằng dân tộc ta sẽ có một tương lai sáng lạn. Việc của chúng ta là mỗi người trong khả năng của mình ngay từ bây giờ ra sức xây dựng tương lai đó!
Tôi hình dung ra, có thể cái tương lai phía trước chúng ta chính là thời Nghiêu Thuấn: con người thân thiện với thiên nhiên, sống với nhau hòa đồng thân ái, dân chủ, trên cơ sở nhân, nghĩa, lễ, trí, tín... Phải chăng chính đó là lý tưởng phương Đông mà phương Tây đương tìm đến?
Lời cảm ơn: Người viết chân thành cảm ơn các tác giả có sách tham khảo trong bài viết này. Đặc biệt cảm ơn những tác giả người Việt ở nước ngoài: Ts Nguyễn Thị Thanh, GsTs. Nguyễn Văn Tuấn, các ông Cung Đình Thanh, Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Quang Trọng. Ông Hoài Thanh báo Đại chúng cung cấp những tư liệu quý. Cảm ơn bạn tôi, Đỗ Thái Nguyên và Gs Ranjan Deka gửi cho bài viết mới nhất. Chính trí tuệ và thịnh tình của các vị đã soi sáng và khuyến khích tôi hoàn thành bài viết. Một lần nữa xin chân thành cảm ơn.
Cuối năm Giáp Thân
HÀ VĂN THÙY
http://forums.vietbao.com/topic.asp?TOPIC_ID=42322 --------------------------- TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. Ts Nguyễn Thị Thanh- Việt Nam trung tâm nông nghiệp lúa nước và công nghiệp đá xưa nhất thế giới - Việtcatholic 30.9. 200. 2. Vương Đồng Linh: Trung quốc dân tộc học & Chu Cốc Thành: Trung Quốc thông sử. Dẫn theo Kim Định: Cơ Cấu Việt Nho. SG 1973 tr.244-245. 3. Kim Định: Việt lý tố nguyên (An Tiêm SG.1970.tr. 16) 4. Kim Định: Việt lý tố nguyên tr. 24 5. Nguyễn Đình Khoa: Nhân chủng học Đông Nam Á (ĐH&THCN.H.1983 tr 106) 6. J.Y. Chu & đồng nghiệp: Genetic relationship of population in China. Proc. Natl. Acad. Sci.USA 1998 số 95 tr. 11763-11768. 7. Bing Su & đồng nghiệp: Y-chromosome evidence for a northward migration of modern human into Eastern Asia during the last Ice Age. American Jurnal of Human Genetics 1999;65;1718-1724. Nhiễm sắc thể Y chỉ có ở con đực, bền vững và chứa nhiều thông tin di truyền hơn mtDNA. Qua Y-chromosome có thể truy tìm "dấu vết di cư" của nhóm dân, từ đó ước đoán được tuổi của tổ tiên. Mức độ biến thiên đa hình thái (polymorphic variation) là chỉ tiêu di truyền quan trọng đánh giá độ đa dạng sinh học của nhóm dân: tổ tiên có mức đa dạng sinh học lớn hơn con cháu. 8. W. Kim & đồng nghiệp: Y-chromosomal DNA variation in East Asia populations and its potential for inferring the peopling of Korea. Jurnal of Human Genetic.2000. số 45 Tr. 76-83. 9. S.W. Ballinger& đồng nghiệp: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45 10. Jin Li: Ngày 29.9.1998 Li Jin thông báo một tin chấn động giới khoa học tại Washinton: " Công trình của chúng tôi cho thấy con người hiện đại trước hết đã đến Đông Nam Á sau đó đi lên Bắc Trung Hoa." "Từ Trung Đông men theo bờ An Độ Dương, ngang qua An Độ đến Đông Nam Á. Sau đó họ đi lên Bắc Trung Hoa, Siberia và cuối cùng là châu Mỹ." ["Our work shows that modern humans first came to Southeast Asia and then move late to Northern China." "...from Middle East, following the Indian Ocean coatline across India to Southeast Asia. Later, they moved northern China, Siberia and eventually the Americas"(Los Angeles Times 29.9.1998)]. 11. Peter Savolainen, Ya ping Zhang... Genetic Evidence for an East Asia origin of Dometic Dogs. Science Nov 22 2002; - Jenifer A. leonard, Robert k. Wayne ... Ancient DNA Eviden for old world origin of new world Dogs. Science Nov 22 2002. (Dẫn theo Nguyễn Văn Tuấn: Năm Mùi nói chuyện dê. Giao Điểm Xuân 2003) 12. Stephen Oppenheimer: Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia- Nxb Phoenix London 1998. Là bác sĩ nhi khoa sống 20 năm trên các đảo ngoài khơi Đông Nam Á, ông rất yêu vùng này, để công nghiên cứu và có những phát hiện quan trọng về lịch sử, văn hóa, dân tộc học... Công trình của ông được đánh giá cao. 13. Vũ Hữu San Vịnh Bắc Việt tái bản 2004. Tripod.com 14 Encyclope'dia d'Archeologie. 15&16 Nguyễn Thị Thanh bđd. 19. C. Sauer: Agricultural Origins and Dispersals. Newyork 1952 20. W.G Solheim II: Southeast Asia and the West-Đông Nam Á và phương Tây- Science 157 21. Wilheim G. Solheim H. Ph. D: New light on Forgotten Past. National Geographic Vol 1339 n 3 tháng 3 năm 1971. 22 Nguyễn Đăng Thục: 4000 năm văn hiến. Hoadam.net 23 Bowen, Hui Li, Daru Lu & đồng nghiệp: Genetic evidence supports demic diffusion of Han culture. Nature /vol 431/ 16 September 2004 24. Kim Định: Việt lý tố nguyên tr 62-63 25. Đại Việt sử ký toàn thư. 26. Ngô Thì Sỹ. Việt sử tiêu án. Văn sử tái bản năn 1991. Bản điện tử Lê Bắc tr 10.. 27. Sử ký Tư Mã Thiên Nxb Văn học H.1988 tr.743. 28. Phủ Biên tạp lục Nxb KHXH. H. 1977 tr 31 29. Nguyễn Thị Thanh bđd.
Trong việc đi tìm nguồn gốc tộc Việt, tôi đã dùng phương pháp y-khoa nhiều nhất, và phương pháp khoa học mới đây. Tôi đã được giáo sư Tarentino về khoa Anatomie của Ý và giáo sư sinh vật Vareilla Pascale của Pháp tích cực giúp đỡ. Tôi chỉ muốn chứng minh rằng trong khoảng 5000 trước Tây-lịch, lãnh thổ tộc Việt nằm từ phía Nam sông Trường-Giang tới vịnh Thái-Lan. Phía Tây tới tỉnh Tứ-Xuyên Trung-Quốc, phía Ðông tới biển Nam-Hải. Nghĩa là bao gồm toàn bộ Hoa-Nam, và Ðông-Dương.
1. Dùng biện chứng y-khoa vào khảo cổ
Biện chứng căn bản của người nghiên cứu y-khoa là:
«Khi có chứng trạng, ắt có nguyên do.»
Biện chứng này đã giúp tôi rất nhiều trong khi nghiên cứu về nguồn gốc tộc Việt. Khi nghiên cứu, những tài liệu cổ, dù là huyền thoại, dù là huyền sử, dù là triết học, tôi cũng coi là chất liệu quan trọng. Như tôi đã trình bày, nước tôi có một tôn giáo, mà toàn dân đều theo đó là thờ các anh hùng dân tộc. Tại những đền thờ chư vị anh hùng, thường có một cuốn phổ kể sự tích các ngài. Vì theo thời gian, tiểu sử các ngài bị dân chúng huyền thoại hóa đi, riết rồi thành hoang đường. Cho nên những học giả đi tiên phong, nghiên cứu về sử học Việt thường bỏ qua. Tôi lại suy nghĩ khác:
«Không có nguyên do, sao có chứng trạng?»
Vì vậy tôi đã tìm ra rất nhiều điều lý thú. Tỷ dụ: Bất cứ một nhà nghiên cứu nào, khi khảo về thời vua An-Dương cũng cho rằng chuyện thần Kim-Quy do vua móng làm nỏ bắn một lúc hàng nghìn mũi tên khiến Triệu-Đà bị bại là hoang đường, là ma trâu đầu rắn. Nhưng tôi lại tin và cuối cùng tôi tìm ra sự thật. Hồi ấy Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế ra nỏ liên châu, như súng liên thanh ngày nay. Tôi cũng tìm ra kích thước của ba mũi tên đồng của nỏ này. (4)
Trước tôi đã có các nhà khảo cổ căn cứ vào xương sọ tìm được tại Trung và Bắc-phần (70 cái). Trong đó có 38 cái do người Pháp sưu tầm thuộc thời đại Đồ-Đá, thì 29/38 cái được kết luận là thuộc chủng loại Malanésien, Indonésien, Australoide hay Nam-Á. Với 29 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể. Gần đây các học giả Việt-Nam lại tìm ra 32 xương sọ, thuộc thời đại Đồ-Sắt (1000 năm trước Tây-Lịch đến 300 sau Tây-Lịch), thì 22/27 thuộc chủng loại Mongoide. Với 32 cái thì không thể kết luận rằng đó là toàn thể tộc Việt thuộc chủng loại Mongoide.
Những tác giả trên đã căn cứ vào chỉ số xương sọ để kết luận. Nhưng y học đã tiến bộ, căn cứ vào chỉ số xương sọ để định nguồn gốc đã bị đánh đổ. Nguyên do: Khi con người di cư đến vùng khác, bị khí hậu, bị nước uống, bị thực phẩm làm thay đổi xương sọ. Chúng tôi dùng hệ thống ADN, hệ thống sinh học mới nhất thử nghiệm ngay những người đang sống của 35 dòng họ tại Hoa Nam với Việt-Nam, rồi với những dòng họ khác tại Hoa Bắc. Lại cũng thử nghiệm những bộ xương của ba vùng trên, không phân biệt thời gian. Cuối cùng chúng tôi tìm ra sự khác biệt của những tộc Hoa Nam, Việt Nam với những tộc Hoa Bắc, và đi đến kết luận: lãnh thổ Văn-Lang, tới hồ Ðộng-Đình. (5)
Hồ Động Đình và Ngũ Lĩnh (ngày nay là Nam Lĩnh)
2. Những vấn đề.
Ranh giới phía Nam của nước Văn-Lang tới nước Hồ-Tôn đã quá rõ ràng. Ranh giới phía Tây với Ba-Thục, phía Đông với biển lại tùy thuộc vào ranh giới phía Bắc. Nếu như ranh giới phía Bắc quả tới hồ Động-Đình, thì ranh giới phía Tây chắc phải giáp Ba-Thục và phía Đông phải giáp Đông-hải. Có thực như thế không?
Vì vậy tôi đi tìm ranh giới phía Bắc. Dưới đây là huyền thoại, huyền sử mà tôi đã bấu víu vào để đi nghiên cứu. Tôi cần tra cứu cho ra:
Vấn đề thứ nhất,
Cổ sử Việt đều nói rằng ranh giới phía Bắc tới hồ Ðộng-Đình. Có thực như vậy không?
• Truyền thuyết nói Ðế-Minh lập đàn tế cáo trời đất, rồi chia thiên hạ làm hai. Từ Ngũ-Lĩnh về Bắc cho Ðế-Nghi, sau thành Trung-quốc. Từ Ngũ-Lĩnh về Nam truyền cho vua Kinh-Dương sau thành Văn-Lang.
Núi Ngũ-Lĩnh, hồ Ðộng-Đình nay vẫn còn. Nhưng liệu có di tích gì chứng minh chăng? Tôi phải đi tìm Ngũ-Lĩnh, hồ Ðộng-Đình.
Vấn đề thứ nhì,
• Truyền thuyết nói: Sau khi vua Kinh-Dương, vua Lạc-Long kết hôn, đều lên núi Tam-Sơn trên hồ Ðộng-Đình hưởng thanh phúc ba năm. Lúc ngài lên núi có chín vạn hoa tầm xuân nở. Tôi phải đi tìm núi Tam-Sơn ở hồ Ðộng-Đình. Liệu trên núi này có di tích gì về cuộc tình năm nghìn năm trước chăng?
Vấn đề thứ ba, • Truyền sử nói: Sau khi Quốc-tổ Lạc-Long, Quốc-mẫu Âu-Cơ cho các hoàng tử đi bốn phương qui dân lập ấp, dặn rằng: “Mỗi năm về Tương-Đài chầu Quốc-Tổ, Quốc-Mẫu một lần.”
• Cổ sử nói: Quốc-Tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-Mẫu dẫn năm mươi con lên núi, hẹn mỗi năm một lần gặp nhau ở cánh đồng Tương. Cánh đồng Tương ở đâu? Nếu có cánh đồng Tương thì cũng có thể kết luận rằng biên giới nước Văn-Lang tới hồ Ðộng-Đình. Tôi phải đi tìm.
Vấn đề thứ tư,
Chứng tích thứ nhất xác định: • Bộ Sử-Ký của Tư-Mã, Nam-Việt liệt truyện có thuật việc: vua nước Nam-Việt là Triệu-Ðà thường đem quân quấy nhiễu biên giới Việt-Hán là Nam-Quận, Trường-Sa (Mậu-Ngọ 183 trước Tây-lịch). Như vậy biên giới Nam-Việt (Tức Việt-Nam) với Hán (Tức Trung-Quốc) ở vùng này. Ngày nay Trường-Sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-Nam, nằm ngay Nam ngạn sông Trường-Giang.
Vấn đề thứ năm,
• Huyền sử nói rằng: trong cuộc khởi nghĩa của vua Trưng:
o Khi Trưng Nhị, Trần Năng, Phật Nguyệt, Lại Thế-Cường, Trần Thiếu-Lan đem quân đánh Trường-Sa (39 sau Tây-lịch), thì nữ tướng Trần Thiếu-Lan tử trận, mộ chôn ở ghềnh Thẩm-Giang (sự thật đó là Tương-Giang thông với hồ Ðộng-Đình). o Sau đó ít năm có trận đánh giữa Lĩnh-Nam và Hán (42 sau Tây-lịch). Tướng Lĩnh-Nam tổng trấn hồ Ðộng-Đình là Phật Nguyệt, tướng Hán là Mã Viện, Lưu Long (40 sau Tây-lịch).
Có thực thế không? Có hai trận Trường-Sa, hồ Ðộng-Đình không? Nếu có thì ranh giới thời Lĩnh-Nam (40-43 sau Tây-lịch) quả tới hồ Ðộng-Đình.
Vấn đề thứ sáu,
Năm 42, sau Tây-Lịch, ba tướng thống lĩnh kỵ-binh thời vua Trưng là Đào Chiêu-Hiển, Đào Đô-Thống, Đào Tam-Lang, đánh nhau với quân Hán tại Bồ-Lăng thuộc Tượng-Quận, vì quân ít, thế cô, ba ông tự tử. Vậy Bồ-Lăng ở đâu? Có trận này không? Nếu có trận này thì ranh giới Lĩnh-Nam phía Tây quả là tới Ba-Thục (Tứ-Xuyên.)
Thưa quý-vị,
Nhưng các sử gia gần đây (1900-1975) đều đặt nghi vấn rằng: Làm gì biên giới thời Văn-Lang rộng như vậy? Nếu có chỉ ở vào phía Bắc biên giới Hoa-Việt hiện nay trăm cây số là cùng. Lại cũng có những người dốt nát (1975-1991), không đủ sách đọc, không theo kịp sự tiến triển của y học, họ chỉ đọc những tài liệu sai lầm, rồi họ như con ngựa kéo xe, chỉ biết có vậy, chúng tôi thấy họ ngu dốt quá, nên không trả lời, cũng như giải thích.
Tôi căn cứ vào những chứng trạng trên mà đi tìm nguồn gốc.
V. ÐI TÌM BIÊN GIỚI NƯỚC VĂN- LANG.
1. Núi Ngũ-Lĩnh.
Cuối năm Canh-Thân (1980) tôi lấy máy bay đi Bắc-Kinh, rồi đổi máy bay ở Bắc-Kinh đi Trường-Sa. Trường-Sa là thủ phủ của tỉnh Hồ-Nam. Tất cả di tích của tộc Việt như hồ Động-Đình, núi Tam-Sơn, núi Ngũ-Lĩnh, sông Tương, Thiên-Đài, Tương-Đài, cánh đồng Tương đều nằm ở tỉnh này.
Tôi đi nghiên cứu với một thư giới thiệu của giới chức cao cấp y học Pháp-Hoa (CMFC). Có một sự hiểu lầm lớn, vì trong thư giới thiệu các giới chức y-khoa chỉ xin được giúp đỡ cho tôi, nên khi tôi muốn tiếp xúc với sở du-lịch, ty văn hóa địa phương, họ đều tưởng tôi tới Trường-Sa để nghiên cứu sự cấu tạo hình thể cùng bệnh tật dân chúng tại đây. Thành ra tôi bị mất khá nhiều thì giờ nghe thuyết trình của các đồng nghiệp về vấn đề này. Tôi cư ngụ trong khách sạn Trường-Sa Tân Điếm nằm trên đại lộ Nhân-Dân. Tôi mua cuốn Địa Phương Chí mới nhất của tỉnh, rồi mò vào thư viện ty văn hóa, sở bảo vệ cổ-tích, đại-học văn-khoa, lục lọi những tài liệu cổ, mà ngay những sinh viên văn khoa cũng ít ai ghé mắt tới.
Đầu tiên tôi đến tìm núi Ngũ-lĩnh. Không khó nhọc, tôi thấy ngay đó là năm dãy núi gần như ngăn đôi Nam, Bắc Trung-quốc
• Một là Ðại-Dữu Lĩnh. • Hai là Quế-Dương, Kỳ-Điền Lĩnh. • Ba là Cửu-Chân, Ðô-Lung Lĩnh. • Bốn là Lâm-Gia, Minh-Chữ Lĩnh. • Năm là Thủy-An, Việt-Thành Lĩnh.
Về vị trí:
• Ngọn Thủy-An, Việt-Thành chạy từ tỉnh Phúc-Kiến, đến huyện Tuần-Mai tỉnh Quảng-Đông.
• Ngọn Ðại-Dữu chạy từ huyện Ðại-Dữu (Nam-An), tỉnh Giang-Tây đến huyện Nam-Hùng tỉnh Quảng-Đông.
• Ngọn Cửu-Chân, Ðô-Lung chạy từ Ðạo-Huyện tỉnh Hồ-Nam tới Gia- Huyện tỉnh Quảng-Tây.
• Ngọn Lâm-Gia, Minh-Chữ chạy từ Lâm-Huyện tỉnh Hồ-Nam đến Liên-Huyện tỉnh Quảng-Ðông.
• Ngọn Quế-Dương từ Toàn-Huyện tỉnh Hồ-Nam tới huyện Quế-Lâm tỉnh Quảng-Tây.
Lập tức tôi thuê xe đi một vòng thăm các núi này. Tôi đi mất mười ngày, trải gần 15.000 cây số.
Như vậy là Ngũ-Lĩnh có thật, nay có núi đã đổi tên, có núi vẫn giữ tên cũ. Một câu hỏi đặt ra: Tại sao khi vua Minh phân chia từ Ngũ-Lĩnh về Nam thuộc Lộc-Tục mà lĩnh địa Việt tới hồ Động-Đình, mà hồ ở phía Bắc núi đến mấy trăm cây số. Tôi giải đoán như thế này:
• Một là vua Minh tế trời ở trên núi Ngũ-Lĩnh là nơi người gặp tiên rồi chia địa giới. Nhưng bấy giờ dân chưa đông, mà sông Trường-Giang rộng mênh mông, sóng lớn quanh năm nên vua Nghi chỉ giữ từ Bắc ngạn mà thôi. Còn vua Kinh-Dương thì sinh trưởng ở vùng này, lại nữa lấy con vua Ðộng-Đình (một tiểu quốc), nên thừa kế luôn vùng đất của nhạc gia.
• Hai là dân chúng Nam-Ngạn Trường-Giang với vùng Nam Ngũ-Lĩnh vốn cùng một khí hậu, phong tục, nên họ theo về Nam không theo về Bắc, thành thử hồ Ðộng-Đình mới thuộc lãnh địa Việt.
Kết luận:
«Quả thực có núi Ngũ-Lĩnh phân chia Nam, Bắc Trung-Quốc hiện thời, vậy có thể núi này đúng là nơi phân chia lãnh thổ Văn-Lang và Trung-Quốc khi xưa».
Ánh sáng đã soi vào nghi vấn huyền thoại.
2. Thiên-đài nơi tế cáo của vua Minh.
Tương truyền vua Minh lập đàn tế cáo trời đất trên núi Quế-Dương, phân chia lãnh thổ Lĩnh-Bắc tức Trung-Quốc, Lĩnh-Nam tức Đại-Việt. Đàn tế đó gọi là Thiên-Đài. Nhưng dãy núi Quế-Dương có mấy chục ngọn núi nhỏ không, biết ngọn Thiên-Đài là ngọn nào? Trên bản đồ không ghi. Sau đó, tôi hỏi thăm dân chúng thì họ chỉ cho tôi thấy núi Thiên-Đài nằm gần bên bờ Tương-Giang. Điều này dễ hiểu, tỷ như ngày nay, du khách nhìn bản đồ sẽ không thấy địa điểm Sài-Gòn. Nhưng trong dân chúng, họ vẫn nhớ tên cũ.
Tôi đi thăm Thiên-Đài.
Thiên-Đài là ngọn đồi nhỏ, cao 179m, đỉnh tròn có đường thoai thoải đi lên. Trên đỉnh có ngôi chùa nhỏ, nay để hoang. Tuy chùa được cấp huyện bảo tồn nhưng không có người trụ trì. Chùa xây bằng gạch nung, mái lợp ngói. Lâu ngày chùa không được tu bổ, nhiều chỗ ngói bị lở, bị khuyết. Tường mất hết vữa, gạch bị mòn nhiều chỗ gần như lún sâu. Duy nền với cổng bằng đá là còn nguyên, tuy nhiều chỗ đá bị bong ra. Bên trong cột kèo bằng gỗ đã nứt nẻ khá nhiều. Những câu đối, chữ còn, chữ mất.
Tại thư viện Hồ-Nam tôi tìm được một tài liệu rất cũ, giấy hoen ố, nhưng chữ viết như phượng múa rồng bay, gồm 60 trang. Ðầu đề ghi:
Thiên-Đài di sự lục Trinh-Quán tiến sĩ Chu Minh-Văn soạn.
Trinh-Quán là niên hiệu của vua Đường Thái-Tông, từ năm Đinh-Hợi (627) đến Đinh-Mùi (647) nhưng không biết Chu đỗ tiến-sĩ năm nào?
Tuy sách do Chu Minh-Văn soạn, nhưng dường như bản nguyên thủy không còn. Bản này do người sau sao chép lại vào đời Thanh Khang-Hy. Nội dung sách có ba phần.
- Phần của Chu Minh-Văn soạn, - Phần chép tiếp theo Chu Minh-Văn, của một sư ni tên Đàm-Chi, không rõ chép vào bao giờ. - Phần thứ ba chép pháp danh các vị trụ trì từ khi lập chùa tới thời Khang-Hy (1662-1772).
Chu Minh-Văn là tiến sĩ đời Đường, nên văn của ông thuộc loại văn cổ rất súc tích, đầy những điển cố cùng thành ngữ lấy trong Tứ-Thư, Ngũ-Kinh cùng kinh Phật. Nhân viên quản thủ thư viện thấy tôi đọc dễ dàng, chỉ lướt qua là hiểu ngay, ông ta ngạc nhiên khâm phục vô cùng. Nhưng nếu ông ấy biết rằng, tôi chỉ được học loại văn đó vào hồi sáu, bảy tuổi thì ông sẽ hết phục. Tài liệu Chu Minh-Văn cũng nhắc lại việc vua Minh đi tuần thú phương Nam, kết hôn với nàng tiên sinh ra Lộc-Tục. Vua lập đàn tại núi này để tế cáo trời đất, vì vậy đài cũng mang tên Thiên-Đài, núi cũng mang tên Thiên-Đài Sơn, Minh-Văn còn kể thêm:
«Cổ thời trên đỉnh núi chỉ có Thiên-Đài thờ vua Đế Minh, vua Kinh-Dương. Đến thời Đông-Hán, một tướng của vua Bà tên Đào Hiển-Hiệu được lệnh rút khỏi Trường-Sa. Khi rút tới Quế-Dương ông cùng nghìn quân lên Thiên-Đài lễ, nghe người giữ đền kể sự tích xưa. Ông cùng quân sĩ nhất định tử chiến, khiến Lưu Long thiệt mấy vạn người mới chiếm được núi. Về đời Đường, để xóa vết tích Việt-Hoa cùng Nam Bắc, các quan được sai sang đô hộ Lĩnh-Nam mới cho xây chùa tại đây».
Tôi biết vua Bà là vua Trưng, còn tướng Ðào Hiển-Hiệu là em con chú của Bắc-bình vương Ðào Kỳ. Ðào Kỳ lĩnh chức Ðại Tư-Mã thời vua Trưng. Còn tướng Ðào Hiển-Hiệu tước phong quốc công, giữ chức Hổ-Nha đại tướng quân. Nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa chỉ huy trận rút lui khỏi Trường-Sa, hồ Ðộng-Đình, đã sai Hiển-Hiệu đi cản hậu, đóng nút chặn ở Thiên-Đài, đợi quân Lĩnh-Nam rút hết, sẽ rút sau. Nhưng Hiển-Hiệu cùng chư quân lên núi thấy di tích thời Quốc-Tổ, Quốc-Mẫu, đã không chịu lui quân, tử chiến, khiến quân Hán chết không biết bao nhiêu mà kể tại đây.
Ngoài cổng chùa có hai đôi câu đối:
Thoát thân Nam thành xưng sư tổ, Thọ pháp Tây-Thiên diễn Phật- kinh.
Hai câu này ngụ ý ca tụng thái-tử Tất-Ðạt-Ða đang đêm ra khỏi thành đi tìm lẽ giải thoát sau đó đắc pháp ở Tây-Thiên, đi giảng kinh.
Tam bảo linh ứng, phong điều vũ thuận, Phật công hiển hách quốc thái an dân.
Hai câu này là ngụ ý nói: Tam bảo linh thiêng, khiến cho mưa thuận gió hòa; đó là công lao của nhà Phật khiến quốc thái dân an.
Nơi có dấu vết Thiên-Đài, còn đôi câu đối khắc vào đá:
Thiên-Đài đại đại phân Nam, Bắc. Lĩnh địa niên niên dữ Việt-Thường.
Nghĩa là: Từ sau vụ vua Minh tế cáo ở đây, đài thành Thiên-Đài, biết bao đời phân ra Nam, Bắc. Núi Ngũ-Lĩnh năm này qua năm khác với dòng giống Việt-Thường.
Chỗ miếu thờ của Ðào Hiển-Hiệu có đôi câu đối:
Nhất kiếm Nam-Hồ kinh Vũ-Đế, Thiên đao Bắc-Lĩnh trấn Lưu Long.
Nghĩa là:
Một kiếm đánh trận ở phía Nam hồ Ðộng-Đình làm kinh tâm vua Quang-Vũ nhà Hán. Ý chỉ nữ tướng Phật-Nguyệt đánh bại Mã Viện ở phía Nam hồ Ðộng-Đình. Một nghìn tay đao do Hiển-Hiệu thủ ở Bắc núi Ngũ-Lĩnh trấn Lưu Long.
Kết luận:
«Như vậy, việc vua Minh tế cáo trời đất là có thật. Vì có Thiên-Đài nên thời Lĩnh-Nam mới có trận hồ Động-Đình. Hai sự kiện đó chứng tỏ lãnh địa thời vua Trưng cũng như Văn-Lang xưa quả là tới Ngũ-Lĩnh, hồ Động-Đình».
3. Cánh đồng Tương,
Nhắc lại: Có hai huyền sử nói về cánh đồng Tương:
• Một là Quốc-Tổ dẫn năm mươi con xuống biển, Quốc-Mẫu dẫn năm mươi con lên núi, mỗi năm tái hội nhau trên cánh đồng Tương một lần.
• Hai là Quốc-Tổ, Quốc-Mẫu truyền các hoàng tử đi khắp bốn phương quy dân lập ấp, mỗi năm hội tại cánh đồng Tương một lần.
Tôi đoán:
• Cả hai vị Quốc-Tổ Kinh-Dương, Lạc-Long sau khi kết hôn đều đem Quốc-Mẫu lên núi Tam-Sơn trên hồ Ðộng-Đình hưởng thanh phúc ba năm. Vậy thì cánh đồng Tương sẽ gần đâu đó trên hồ Ðộng-đình.
• Phía Nam hồ Ðộng-đình là sông Tương-Giang, chảy theo hướng Nam-Bắc dài 811 km, lưu vực tới 92500km2, chẻ đôi tỉnh Hồ-Nam với Quảng-Tây. Vậy cánh đồng Tương sẽ nằm trong lưu vực Tương Giang.
Tôi thuê thuyền đi từ cảng Dương-Lâm nơi xuất phát ra Tương-Giang là hồ Động-Đình, xuống Nam, qua Tương-Lâm, tôi dừng lại, nghiên cứu địa thế cùng thăm chùa Bạch-Mã. Đây là địa phận quận Ích-Dương. Vô tình tôi tìm ra một nhánh sông Âu-Giang và một cái hồ rất lớn, vào mùa nước lớn rộng tới 4-5 mẫu, vào mùa nước cạn chỉ còn 2-3 mẫu mà thôi. Suốt lộ trình từ hồ Động-Đình trở xuống, trên cửa sông Tương cũng như hai bên bờ chim Âu bay lượn khắp nơi. Đặc biệt trên Âu-Giang, Âu-hồ, giống chim này càng nhiều vô kể. Từ Âu-Giang, tôi trở lại sông Tương, xuôi tới Trường-Sa thủ phủ của Hồ-Nam rồi tới các quận lỵ Tương-Đàm, Chu-Châu, Hành-Dương, Quế-Dương.
Không khó nhọc tôi tìm ra:
• «Cánh đồng Tương, tức là vùng trũng phía Tây-ngạn, giới hạn phía Bắc là hồ Động-Đình, Nguyên-Giang. Phía Nam là Linh-Lăng, Hành-Giang. Phía Tây là vùng Chiêu-Dương, Lãnh-Thủy.
Nhưng nay cánh đồng Tương chỉ còn khu vực tứ giác: Tương-Giang, Nguyên-Giang, Liên-Thủy, Thạch-Khê-Thủy».
Sau khi tìm ra cánh đồng Tương, Thiên-Đài, cùng những đàn chim âu, tôi giải đoán như thế này:
• « Quốc-Tổ Lạc Long kết hôn với công chúa con Đế-Lai, hẳn công chúa cũng có tên. Nhưng vì lâu ngày người ta không nhớ được tên ngài, nên đã lấy con chim Âu, rất hiền hòa, xinh đẹp ở vùng hồ Động-Đình, Tương-Giang mà gọi là Âu-Cơ (Cơ là vợ vua). Vì người ta gọi Quốc-Mẫu là Âu-Cơ, thì họ nghĩ ngay đến Quốc-Mẫu sinh đẻ. Khi chim Âu đẻ thì phải đẻ ra trứng. Còn con số một trăm, là con số triết học Việt-Hoa dùng để chỉ tất cả. Như trăm bệnh là tất cả các bệnh, trăm họ là toàn dân. Trăm con có nghĩa là tất cả dân trong nước đều là con Quốc-Mẫu»
Kết luận:
«Đã có cánh đồng Tương, thì chuyện Quốc-Tổ, Quốc-Mẫu hẹn mỗi năm hội tại đây một lần là có. Khi sự kiện có núi Ngũ-Lĩnh, có Thiên-Đài. Nay chứng cớ được kiểm điểm, thì lãnh địa của tộc Việt xưa quả tới hồ Động-Đình».
4. Hồ Ðộng-Đình và Tam-Sơn
Hồ Động-Đình nằm ở phía Nam sông Trường-Giang. Hồ được coi như nơi phát tích ra tộc Việt. Địa khu Bắc sông Trường-Giang được gọi là tỉnh Hồ-Bắc, tức đất Kinh-Châu thuở xưa. Địa khu phía Nam sông Trường-Giang được gọi là tỉnh Hồ-Nam.
Hồ Động-Đình nằm trong tỉnh Hồ-Nam. Hồ thông với sông Trường-Giang bằng hai con sông. Cho nên người ta coi hồ như nơi chứa nước sông Trường-Giang, rồi đổ vào Tương-Giang. Trên Bắc-Ngạn, hồ có núi Tam-Sơn. Tôi đã lên đây ba lần. Tương truyền các các nữ tướng thời vua Trưng như Trưng-Nhị, Trần Năng, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Trần Thiếu-Lan đánh chiếm Trường-Sa vào ngày đầu năm, vì vậy tôi cũng tới đây vào dịp này để thấy rõ phong cảnh, rồi tả trận đánh trong bộ Cẩm-Khê-Di-Hận (6).
Hồ rộng 3915 cây số vuông, độ sâu về mùa cạn là 38,5 mét, về mùa nước lớn là 39,20 mét. Tra trong chính sử thì quả hồ Động-Đình thuộc lãnh địa Văn-Lang. Như trên đã nói, triều đại Thần-Nông Bắc đến đời vua Du-Võng thì mất vào năm 2696 trước Tây-lịch, chuyển sang thời đại Hoàng-Đế. Sử gia Trung-Quốc cho rằng Hoàng-Đế là tổ lập quốc.
Nói theo triết học Tây phương thì vua Du-Võng gốc từ Thần-Nông thuộc nông nghiệp cư trú trong vùng đồng bằng ở phương Nam lấy hỏa làm biểu hiệu nên còn gọi là Viêm-Đế. Còn vua Hoàng-Đế gốc ở dân du mục, săn bắn, từ phương Bắc xuống. Dân du mục nghèo, nhưng giỏi chinh chiến. Dân nông nhiệp giàu nhưng không giỏi võ bị nên bị thua. Bộ Sử-ký của Tư-mã-Thiên, quyển 1, Ngũ-Đế bản kỷ chép rằng:
«...Thời vua Hoàng-đế, họ Thần-Nông (Bắc) đã suy, chư hầu chém giết lẫn nhau, khiến trăm họ khốn khổ vô cùng. Triều Thần-Nông không đủ khả năng chinh phục. Vua Hiên-Viên Hoàng-Đế thao luyện can qua, chinh phục những chư hầu hung ác. Vì vậy các nơi theo về rất đông. Trong các chư hầu thì Suy-Vưu mạnh nhất.
Vua Du-Võng triều Thần-Nông định đem quân xâm lăng chư hầu, nhưng chư hầu chỉ tuân lệnh Hoàng-Đế. Vua Hoàng-Đế tu sửa đức độ, luyện tập binh mã, vỗ về trăm họ, giúp đỡ bốn phương, luyện tập thú dữ rồi đại chiến với vua Du-Võng ở Bản-tuyền, thành công.
Suy-Vưu làm loạn, không tuân đế hiệu. Hoàng-Đế triệu tập chư hầu cùng Suy-Vưu đại chiến ở Trác-Lộc, bắt sống Suy Vưu. Chư hầu tôn ngài làm thiên-tử thay họ Thần-Nông. Trong thiên hạ nơi nào không thuận vua Hoàng-Đế đem quân chinh phục.
Lãnh thổ của Hoàng-Đế, Đông tới biển, vùng núi Hoàn-Sơn, Đại-Tông. Phía Tây tới núi Không-Động, Kê-Đầu. Nam tới Giang, Hùng, Tương... » (7)
Sông Giang đây tức là sông Trường-Giang, Hùng đây tức là Hùng-Nhĩ-Sơn, Tương là Tương-Sơn. Bùi Nhân đời Tống lập giải sử-ký nói rằng Tương-Sơn thuộc Trường-Sa.
Kết luận:
«Từ chính sử, huyền-sử đều cho biết lĩnh địa Văn-Lang tới hồ Động-Đình. Khi vua Hoàng-Đế dứt triều đại Thần-Nông Bắc, thì triều Thần-Nông Nam tức họ Hồng-Bàng còn kéo dài đến 2439 năm nữa. Lãnh thổ Trung-quốc thời Hoàng-Đế cũng chỉ tới sông Trường-Giang. Phía Nam bao gồm Trường-Sa, hồ Động-Đình vẫn thuộc Văn-Lang."
Khi chính sử ghi chép như vậy thì việc quốc-tổ, quốc-mẫu với hồ Ðộng-Đình, núi Tam-Sơn không còn là huyền thoại nữa. Vậy chuyện các ngài lên núi hưởng thanh phúc nên ghi vào chính sử.
5. Biên giới lĩnh địa tộc Việt thế kỷ thứ 2 trước Tây Lịch.
Sử Hán là bộ Sử-Ký của Tư-Mã Thiên. Sử Việt như bộ Ðại-Việt Sử Ký Toàn Thư, Khâm-Định Việt-Sử Thông Giám Cương Mục, đều ghi rằng vào thế kỷ thứ hai trước Tây lịch, thời Triệu Ðà cai trị lĩnh địa tộc Việt, biên giới vẫn còn ở vùng Trường-Sa, hồ Ðộng-Đình.
Sử Hán, sử Việt đều chép chi tiết giống nhau về vụ Triệu Ðà lập quốc ở lãnh thổ Lĩnh-Nam. Tần Thủy- Hoàng sai Ðồ Thư mang quân sang đánh Âu-Lạc, chiếm được vùng đất phía Bắc, lập làm ba quận:
• Nam-Hải (Quảng-Đông và một phần Phúc-Kiến), • Quế-Lâm (Quảng-Tây, Hồ-Nam và một phần Quí Châu), • Tượng-Quận (Vân-Nam và một phần Quý-Châu).
Vua An-Dương sai Trung-Tín hầu Vũ Bảo-Trung và Cao-Cảnh hầu Cao Nỗ đem quân chống, giết được Ðồ Thư và tiêu diệt nữa triệu quân Tần. Tuy vậy vua An-Dương cũng không chiếm lại vùng đất đã mất.
Sau nhân thời thế loạn lạc, một viên quan Tần là Triệu Đà trấn vùng Nam-hải, đem quân chiếm vùng Tượng-Quận, Quế-Lâm, rồi dùng gián điệp trong vụ án Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà chiếm được Âu-Lạc lập ra nước Nam-Việt. Lãnh thổ nước Nam-Việt bao gồm những vùng nào? Không một sử gia nào chép rõ ràng. Nhưng căn cứ những sự kiện lẻ tẻ, ta cũng có thể biết rằng lãnh địa Nam-Việt là lãnh địa thời Văn-Lang.
Trong khi Triệu Đà lập nghiệp ở phương Nam, thì cuộc nội chiến ở phương Bắc chấm dứt. Hạng Vũ, Lưu Bang diệt Tần, rồi Lưu Bang thắng Hạng Vũ lập ra nhà Hán. Lưu Bang lên ngôi vua sai Lục Giả sang phong chức tước cho Triệu Đà. Đúng ra Triệu Đà cũng không chịu thần phục nhà Hán, nhưng họ hàng thân thuộc, mồ mả của Triệu Đà đều ở vùng Chân-Định. Đà sợ nhà Hán tru diệt họ hàng, cùng đào mồ cuốc mả tổ tiên lên mà phải lùi bước.
Năm 183 trước Tây-lịch, Cao tổ nhà hán là Lưu Bang chết, Lã-Hậu chuyên quyền cấm bán hạt giống, thú vật cái, kim khí sang Nam-Việt. Triệu Đà không thần phục nhà Hán, rồi đem quân đánh Trường-Sa, Nam-Quận.
Kết luận:
«Trường-Sa là quận biên cương của Hán. Vậy ít nhất lãnh thổ Nam-Việt, Bắc tới Trường-Sa. Nam quận là quận ở phía Bắc sông Trường-Giang. Mà Nam-Quận là quận biên cương Hán, thì biên giới Nam-Việt ít nhất tới Nam-Ngạn sông Trường-Giang». ------------------ Ghi chú của Tăng Hồng Minh: Một quan khách, nữ giáo sư khoa Thiên-văn học tên Madeleine Chevalier hỏi: "ADN là gì? Tôi nghe nói, cũng như đọc trên báo hoài, mà không biết rõ chi tiết cái hệ thống này?" Trần Ðại-Sỹ: "Tôi xin nhường lời cho Giáo-sư Vareilla Pascale chuyên khoa về vấn đề này trả lời." Vareilla Pascale: "Cảm ơn Giáo-sư Trần Ðại-Sỹ đã cho tôi danh dự trả lời Giáo-sư Chevalier. ADN viết tắt của từ Acide désoxyribonucléique, tiếng Anh là Deoxyribosenucleic acide, viết tắt là DNA."
(Phần này khá dài, khoảng 20 trang A4, chúng tôi không dịch hết, vì quá chuyên môn, chỉ dành cho sinh viên y khoa. Vả phần này quí độc giả có thể tìm đọc trong bất cứ bộ tự điển Encyclopédie của Pháp hay Anh, Mỹ nào.) ------------------------------ Bác-sĩ Trần Ðại-Sỹ. Giám đốc Trung-quốc sự vụ, viện Pháp-á
Nghĩa tử là nghĩa tận. Nghĩa nào là Nghĩa Trang. Từ muôn trùng xa cách. Nhắn ai về cố hương. Ðốt nén nhang viễn xứ. Gửi người dưới mộ sâu. Bao nhiêu năm quên lãng. Chợt xót thương một lần ...... more
Mừng Ngày Quân Lực - Mừng Ngày Của Cha Lời mở đầu: Một vài ngày nữa Ngày lễ của Cha lại trở về. Một văn hào đã viết “Nơi chốn bình an nhất của đứa trẻ trên thế giới này là căn phòng của cha nó!” Tình cha nhiều... more
Dấu Hỏi Ngã Trong Văn Chương Việt Nam Văn hóa Việt Nam của chúng ta vô cùng phong phú. Một trong những nguồn phong phú vô ngàn mà trên thế giới không ai có, đó là ý nghĩa về dấu hỏi ngã. Thật thế, dấu hỏi... more
Boeing ra mắt máy bay tàng hình không người lái Ngày 10/5 vừa qua, hãng Boeing đã giới thiệu mẫu máy bay không người lái (UAS) tàng hình Phantom Ray. Kiểu dáng của chiếc máy bay này có thể khiến chúng ta liên tưởng... more
4 Tội Phản Bội Tổ Quốc của Đảng Cộng Sản Việt Nam "… Bằng kế hoạch thôn tính 4 bước, đế quốc Bắc Kinh buộc Hà Nội hiến dâng toàn thể hải phận Việt Nam từ Vịnh Bắc Việt đến vùng biển Hoàng Sa Trường Sa …" - Năm... more
Cách Thức Nhận Dạng Ðặc Công Nằm Vùng Trong Giới Truyền Thông Hải Ngoại. Mỗi thanh niên cần phải có trình độ nhận thức chính trị vững vàng vì đó là thành phần rường cột của đất nước. I) Mục Ðích:... more
Từ Việt Nam Sang Hoa Kỳ Viết Về Nước Mỹ http://www.vietbao.com/?ppid=74&pid=51&auid=4087&nid=159627 Tác giả: Hoàng Thân Vinh Bài số 2902-28202-vb4052610 Tác giả là một thành viên... more
Quốc Kỳ Việt Nam: Nguồn Gốc và Lẽ Chính Thống Kỹ Sư Nguyễn Đình Sài I. DẪN NHẬP "Quốc Kỳ" - The National Flag - là lá cờ chính thức của một dân tộc sống trên một lãnh thổ do một chính quyền quốc gia quản trị, được đa số dân... more